Văn Học

Phân tích hình tượng sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông

Đề số 1: Phân tích hình tượng sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

MỞ BÀI.

Hoàng Phủ Ngọc Tường quê gốc ở Quảng Trị, nhưng ông sinh ra ở Huế và cho đến tận cuối đời ông vẫn gắn bó với đất Huế. Có lẽ cũng chính vì thế mà nhà văn có một tình yêu và sự nghiên cứu rất sâu sắc về văn hóa, lịch sử, địa lý của xứ Huế, là cơ sở vững chắc để có những trang viết đặc sắc về Huế. Ông có sở trường ở thể loại bút ký và bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện rõ lối tư duy phóng túng, liên tưởng mãnh liệt phong phú, ngôn ngữ trong sáng đẹp đẽ tài hoa, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái chất trữ tình và trí tuệ, giữa nghị luận sắc bén và niềm suy tư đa chiều. Rất tiêu biểu cho những sáng tác của ông là bài bút kí “ ai đã đặt tên cho dòng sông”. Song có thể nói toàn bộ những giá trị nội dung và sáng tạo nghệ thuật của tác phẩm được tập trung lắng kết trong……..vẻ đẹp hình tượng sông Hương

Phân tích hình tượng sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông
Phân tích hình tượng sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông

THÂN BÀI

Giới thiệu Khái quát

Hoàn cảnh sáng tác , xuất xứ:  “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông. Bài kí được viết vào ngày 4-1-1981, tại Huế, được in trong tập sách cùng tên. Tác phẩm gồm có ba phần, đoạn trích chúng ta được học nằm ở phần mở đầu, chủ yếu nói về vẻ đẹp của dòng Hương giang giữa Huế mộng mơ.

 

Khái quát qua về hình ảnh dòng sông:

Ai đó đã từng nói :

“Quê hương ai cũng có

Một dòng sông bên nhà

Quê hương ai cũng có

Một dòng sông tuổi thơ”

Vì thế mà các dòng sông đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho rất nhiều nhà thơ, nhà văn. Chúng ta hẳn đều đã từng biết đến bài thơ như “Bên kia sông Đuống” của nhà thơ Hoàng Cầm, “Nhớ con sông quê hương” của Tế Hanh, biết đến những trang văn tài hoa của Nguyễn Tuân về dòng Sông Đà… Các dòng sông là cái nôi của những vùng, các nền văn hóa đa sắc màu nên viết về nó các nhà thơ, nhà văn thường viết bằng cả sự am tường, bằng một tình yêu tha thiết, sâu lắng. Từ lâu, con sông Hương của xứ Huế cũng đã rất nhiều lần đi vào các tác phẩm văn hóa, thơ ca. Trong bài Huế thương Vũ Dung có viết:

Một lần anh đến Huế thơ

Thấy cô gái đẹp say mơ giấc nồng

Sông Hương quyến rũ lạ lùng

Em choàng tỉnh giấc ngượng ngùng nhìn tôi

 

Sông Hương đã đi vào thơ ca nghệ thuật như một nguồn cảm hứng bất tận đối với văn nghệ sĩ. Có lẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phải lòng sông Hương – xứ Huế như một lần gặp gỡ định mệnh để rồi gắn bó với mảnh đất này hơn 40 năm. Trước những rung động của 1 mối tình say đắm trong những trang Kiều để từ đó nhà văn dành cho sông Hương 1 bài kí trang trọng. cả bài kí dường như là 1 cuộc hành trình để tìm kiếm cho câu hỏi “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG”

Trong tác phẩm này nhà văn đã cảm nhận về đẹp của sông Hương từ nhiều góc độ, phương diện. Nhà văn đã cảm nhận từ cảnh sắc thiên nhiên sông Hương đến vẻ đẹp sông Hương từ góc độ lịch sử, văn hóa thi ca với một tâm hồn nghệ sĩ đầy rung cảm.

Vẻ đẹp của dòng sông Hương

2.1. Dòng sông Hương đẹp ngay từ cái tên

Cái tên của dòng sông đã gợi ra những ấn tượng rất đẹp và cũng có lẽ vì cái tên đẹp ấy mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đặt nhan đề cho bài bút ký là: “Ai đã đặt tên cho dòng sông”. Nhan đề ấy là một nhan đề hấp dẫn, gợi một thoáng bâng khuâng của thi sĩ, khơi gợi hứng thú và tò mò cho người đọc đi vào tìm hiểu để tự tìm câu trả lời cho mình. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” vốn là câu hỏi của một nhà thơ Hà Nội khi ngắm nhìn vẻ đẹp của dòng sông Hương, được lặp lại nhiều lần trong tác phẩm nhằm mục đích lưu ý người đọc về cái tên đẹp của dòng sông: sông Hương (sông thơm). Câu hỏi ấy đã khơi lên mạch viết dạt dào cảm xúc về vẻ đẹp thiên phú và đánh động bao nhiêu vốn liếng văn hóa về dòng sông Hương chảy qua cố đô Huế.

Tác giả sau đó đã dẫn dắt người đọc đến với cội nguồn tên gọi của dòng sông ấy,  nhắc đến một giai thoại đẹp mà nhà văn đã phải kỳ công lục tìm “Người làng Thành Chung có nghề trồng rau thơm. Ở đây có một huyền thoại kể rằng vì quá yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi”. Huyền thoại ấy đã trả lời câu hỏi: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Cái tên thân thương “sông Hương” hóa ra được bắt nguồn từ tình yêu quê hương đất nước của những người dân xứ Huế. Chính họ là những người đã khai sơn phá thạch, chứng kiến những thăng trầm của xứ Huế, trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử và góp phần kiến tạo nên bản sắc văn hóa, muốn mang cái đẹp, tiếng thơm để gây dựng, vun đắp cho văn hóa, lịch sử của xứ sở. Và cũng chính họ đã là người đã đặt cho dòng sông cái tên đẹp ấy. Nhan đề tác phẩm không chỉ có ý nghĩa ca ngợi mà còn thể hiện được niềm biết ơn của tác giả đối với những con người đã khai phá, xây dựng, làm đẹp vùng đất này, bộc lộ niềm tự hào về vẻ đẹp của non sông, đất nước.

Câu hỏi  “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” gợi ra bao nhiêu vẻ đẹp của dòng sông nên không thể trả lời vắn tắt trong một vài câu mà phải trả lời bằng cả bài kí dài ca ngợi vẻ đẹp, chất thơ về dòng sông.

2.2. Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí (Thủy trình, cảnh sắc thiên nhiên của dòng sông Hương)

Cảnh sắc thiên nhiên sông Hương được tác giả cảm nhận qua nhiều khúc đoạn. Từ vùng thượng lưu qua vùng đồng bằng rồi về thành phố Huế. Ở mỗi khúc đoạn dòng sông lại hiện lên với một vẻ đẹp riêng đầy cuốn hút.

a.* Sông Hương ở thượng nguồn

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ tự sự nhưng không tự sự về 1 đối tượng khoa học địa lí mà như kể về 1 sinh thể cô gái, tác giả lần theo dòng chảy của con sông không phải với tư cách của nhà địa lí khảo cổ mà như chàng trai đi tìm hiểu khám phá về cô gái. Và ở mỗi thuỷ trình ông lại có những liên tưởng hết sức thú vị và ấn tượng đậm nữ tính.

Nhà văn đã ngược lên ngọn nguồn của con sông để nhận diện nó rồi xuôi theo dòng quan sát nó “ nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành sẽ không hiểu đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua. Dưới con mắt tài hoa của HPNT sông Hương hiện lên không phải là cảnh sắc thiên nhiên thuần tuý mà là dòng sông có linh hồn, có cá tính.

Ở khúc thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp mãnh liệt, man dại và huyền bí. Bằng việc sử dụng  phép so sánh nhà văn đã ví sông Hương như một bản trường ca bất tận của rừng già, rầm rộ dưới những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn.trường ca chứ không phải tình ca đã tạo 1 ấn tượng đậm nét trong lòng người đọc về vẻ đẹp mạnh mẽ hùng tráng cuả dòng sông.

 

Đồng thời nó mang vẻ đẹp rất thơ mộng và trữ tình khiến người ta không khỏi say mê bằng “vẻ dịu dàng, say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.

Đặc biệt dưới con mắt của chàng trai đa cảm , đầy lãng mạn dòng sông xứ  Huế còn được  nhân hóa như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Hình tượng cô gái Di-gan khiến người đọc liên tưởng đến một cô gái thuộc tộc người nổi tiếng trên thế giới, một tộc người thích sống du mục, nhảy múa, ca hát và giỏi bùa chú. Các cô gái của tộc người Di gan thường đem lời ca, điệu múa của của mình “đốt cháy” bao người. Bởi vậy có thể nói đây là lối so sánh – liên tưởng táo bạo, bất ngờ, lấp lánh trí tuệ, thể hiện được cái nhìn đa chiều của tác giả trong sự hội nhập văn hóa của thời đại mới. Tác giả đã mang văn hóa phương Tây vào văn hóa Việt Nam; mang thượng nguồn sông Hương của Việt Nam ra thế giới một cách cụ thể, dễ hình dung nhất qua hình ảnh cô gái Di-gan. Lối ẩn dụ, nhân hóa sâu sắc, trí tuệ khi chạm đến chiều sâu tâm hồn của sông Hương như tâm hồn của một con người, một cô gái với “một tâm hồn tự do và trong sáng”. Những liên tưởng thú vị và độc đáo ấy đã chạm khắc vào tâm trí người đọc ấn tượng mạnh mẽ về vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng đầy quyến rũ, tình tứ, tinh tế, đầy cá tính của sông Hương.

Sông Hương là đứa con của rừng già và rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ với tâm hồn tự do. Nhưng cũng chính từ rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng của nó để khi ra khỏi rừng sông Hương nhanh chóng mang vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Với sự so sánh, liên tưởng này nhà văn đã ví sông Hương như một đấng sáng tạo góp phần gìn giữ và bảo tồn văn hóa nơi đây. Sông Hương không chỉ đẹp mà còn là khởi nguồn của không gian văn hóa Huế và không có sông Hương khó có thể có nền văn hóa Huế ngày nay.

 

Vẻ đẹp của sông Hương ở khúc thượng nguồn được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi là phần tâm hồn sâu thẳm. Dòng sông Hương dường như không muốn bộc lộ phần tâm hồn sâu thẳm ấy nên khi ra khỏi đại ngàn đã đóng kín cửa rừng rồi ném chìa khóa vào những hang đá dưới chân núi Kim Phụng. Bởi thế mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhắn nhủ với người đọc rằng muốn hiểu hết được vẻ đẹp của dòng sông Hương ta không chỉ ngắm khuôn mặt kinh thành của nó mà phải hiểu đầy đủ bản chất của nó với hành trình gian truân mà nó đã vượt qua. Có lẽ, viết đoạn văn là tác giả muốn kết luận: muốn hiểu được dòng sông Hương phải ngược lên thượng nguồn; cũng giống như muốn hiểu một dân tộc phải tìm hiểu rõ cội nguồn của dân tộc ấy.

Tóm lại, đoạn văn ngắn với liên tưởng phong phú, câu văn giàu hình ảnh cùng biện pháp nhân hóa, so sánh, điệp cấu trúc, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả rất chính xác về vẻ đẹp và vị thế sông Hương và thượng nguồn, điều mà xưa nay ít người khám phá ra

 

b.* Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế

-với liên tưởng kì thú Vẻ đẹp của dòng sông Hương khi về đến đồng bằng được tác giả so sánh và nhân hóa với một người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng chờ người tình mong đợi đến đánh thức. Trong sự so sánh, nhân hóa này vẻ đẹp của sông Hương trở nên nhuốm màu cổ tích, gợi người đọc liên tưởng đến nàng công chúa xinh đẹp ngủ trong rừng chờ hoàng tử đến hóa giải lời nguyền.

Bằng sự hiểu biết sâu sắc về địa lí và sự quan sát kĩ lưỡng tỉ mỉ về dòng sông khiến nhà văn không chỉ miêu tả chính xác những địa danh nổi tiếng của vùng ngoại ô mà dòng sông đã đi qua mà còn gợi lên trong ta dòng chảy uốn lượn mềm mại, dịu dàng của nó qua ngã ba tuần,điện Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán …….

Để đến được với người tình mong đợi, dòng sông phải qua một cuộc hành trình đầy gian truân. Sông Hương phải chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn một đường cong thật mềm, vẽ một hình cung thật tròn. Nó phải đi trong dư vang của núi rừng Trường Sơn, vượt qua những lòng vực sâu, trôi đi giữa những dãy đồi sừng sững như thành quách với những điểm cao đột ngột như Tam Thai, Lựu Bảo. Trong cuộc hành trình đầy gian truân ấy, sông Hương có những dịp bộc lộ vẻ đẹp của nó:

+ Về hình dáng: Vì phải uốn lượn, đổi dòng liên tục nên hình dáng dòng sông trở nên mềm mại như một tấm lụa..

+ Về màu sắc: Màu sắc nước trở nên xanh thẳm – màu nước trong veo rất gợi cảm. màu xanh của sắc nước sông Hương gợi ta liên tưởng đến màu xanh ngọc bích của sắc nước Sông Đà trên trang văn của Nguyễn Tuân.

Nếu dòng Sông Đà của Tây Bắc sắc nước biến ảo theo mùa “ mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ” thì dòng sông xứ Huế trong cảm nhận mê đắm tài hoa của HPNT sắc nước biến ảo theo từng thời điểm trong ngày “ sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” và dòng sông còn tạo nên những mảng phản quang màu sắc trên nền trời thiên nhiên thành phố.

+ Vẻ đẹp:  tiếp tục dõi theo thuỷ trình của dòng sông nhà văn lại khám phá ra những vẻ đẹp ấn tượng. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất như triết lí, cổ thi, nhất là khi dòng sông chảy qua những đám quần sơn lô nhô, giữa giấc ngủ ngàn năm của vua chúa với những lăng tẩm đồ sộ được phong kín trong những rừng thông u tịch.

 

>> vẻ đẹp của Sông Hương được phản chiếu bằng kiến thức văn học, địa lí và của HPNT về Huế. Với những so sánh ấn tượng đầy chất thơ, với sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng dưới ngòi bút tài hoa của HPNT , sông Hương vừa mang vẻ đẹp lãng mạn kiều diễm, vừa cổ kính đậm nét văn hoá của Huế. Đặc biệt dòng chảy của sông Hương chảy xuôi về Huế dưới con mắt lãng mạn của nhà văn , sông Hương không phải là dòng chảy địa lí thuần tuý mà là 1 cuộc tìm kiếm có ý thức của cô gái sông Hương đang đi đến điểm hẹn tình yêu gặp thành phố tương lai của nó.

Đằng sau những đoạn văn đầy hình ảnh, giàu chất thơ đó người đọc cảm nhận được 1 cái nhìn tinh tế lãng mạn của 1 cái tôi HPNT yêu say đắm đến thế – dòng Hương Giang và xứ Huế của ông.

 

c.* Sông Hương khi chảy trong lòng thành phố  Huế

 

ngay phần mở đầu đoạn trích nhà văn khẳng định sông Hương là thuộc về 1 thành phố duy nhất nghĩa là sông Hương gắn liền với Huế. Nói đến Huế người ta nghĩ ngay đến sông Hương và ngược lại. Sông Hương vào Huế chính là cuộc tìm kiếm có ý thức tới thành phố tình yêu của nó.

Khi về đến thành phố Huế, sông Hương lại một lần nữa được nhân hóa khiến nó trở nên có hồn và mang tâm trạng như con người. Khi biết đã tìm đúng đường để về gặp thành phố thân yêu, sông Hương vui tươi lên hẳn lên giữa biền bãi vùng ngoại ô Kim Long. Qua lăng kính tình yêu, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã luôn nhìn sông Hương với thành phố Huế như một cặp đôi tình nhân như thế. Về đến Huế dòng sông đã bộc lộ những vẻ đẹp được nhiều người biết đến nhất:

+ Vẻ đẹp của sông Hương ở Huế trước hết gắn liền với hình ảnh ấn tượng về những cây cầu trắng nhỏ nhắn in ngần lên bu trời như những vành trăng non. Tác giả đã sử dụng một so sánh độc đáo, mới lạ để gợi tả vẻ đẹp của cầu Tràng Tiền. Khi sông Hương gặp Huế, vẻ đẹp của dòng sông và cây cầu như hoà vào làm một. Cây cầu như một nét đẹp bừng sáng tô điểm cho vẻ đẹp của thành phố cũng như của dòng sông. Nếu đã từng đến Huế, ta đều biết đến cây cầu Tràng Tiền nổi tiếng vẫn soi bóng trên dòng Hương giang, gợi một vẻ đẹp rất riêng mà chỉ có xứ Huế mộng và thơ mới có.

Đó là cây cầu có hình dáng đặc biệt như chiếc lược ngà xếp chồng lên nhau. Thi sĩ Nguyễn Bính đã từng ca ngợi vẻ đẹp nên thơ của nó “ cầu cong như chiếc lược ngà

 

 

Bằng năng lực quan sát tinh tế, ngôn ngữ phong phú nhà văn đã diễn tả chính xác gợi hình gợi cảm dòng chảy uốn lượn của sông Hương từ Cồn Giã Viên đến Cồn Hến “  giáp mặt ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn 1 cánh cung rất nhẹ  sang đến Cồn Hến, đường cong ấy làm cho dòng ông mềm hẳn đi như 1 tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.  Câu văn viết về dòng sông mà nói được rất nhiều điều về con người – những cô gái Huế dịu dàng , thiết tha , đa tình mà e lệ, kín đáo:

Anh chàng xứ Quảng đi thi

Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành

Tiếng “ vâng” không nói ra của tình yêu. Khi yêu họ có ngôn ngữ riêng. Không nói nhưng rất nhiều gửi gắm. vậy nên mới có chuyện “ 1 ánh mắt, 1 nụ cười có thể là tín hiệu của sự thuận tình đâu cần lúc nào cũng cần đến tiếng vâng”

 

+ Để làm nổi bật vẻ đẹp đặc trưng của dòng sông Hương ở Huế, từ góc độ văn hoá nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh sông Hương với một số dòng sông khác trên thế giới. Nhà văn so sánh sông Hương với sông Xen của Pa-ri và sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét để thấy vẻ đẹp riêng của dòng sông. Sông Hương nằm trọn trong lòng thành phố yêu quý của mình, những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố thị. Sông Hương của Huế đã hoà làm một , sông Hương làm nên vẻ đẹp mộng mơ của Huế và ngược lại Huế làm nên vẻ đẹp trầm tư sâu lắng của sông Hương.

 

Sông Hương khi về đến Huế đã chảy “chậm, thực chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”, HPNT khi miêu tả Sông Hương trong lòng thành phố đã chọn cho mình kênh tiếp cận là âm nhạc. ở góc độ này sông Hương chính là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Trong tiếng anh “ slow” có nghĩa là chậm và sông Hương như 1 giai điệu trữ tình chậm rãi dành riêng cho xứ Huế. Có thể thấy HPNT đã rất tinh tế khi nhìn ra 1 đặc trưng của Hương giang. So với các dòng sông khác ở Việt NAM và thế giới , lưu tốc của sông Hương rất chậm.

Nhà văn đã liên tưởng so sánh với sông NêVa băng lướt ra bể Ban Tich. Lưu tốc nhanh đến mức không kịp để cho lũ hải âu nói 1 điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. Mượn  câu nói của Hê ra clits với hình ảnh” khóc suốt đời vì dòng sông đã trôi đi quá nhanh” . HPNT đã lí giải điệu chảy lững lờ của Sông Hương bằng cả trái tim. Và  dòng sông dường như dùng dằng không muốn rời xa thành phố thân yêu của nó nên mới trôi chậm như vậy.

Đó là tình cảm của sông hương với huế hay chính là tình cảm của nhà văn với sông hương, với xứ huế thơ mộng.

 

 

********Chú ý:  phân tích đoạn : hình như trong khoảnh khắc trùng lại………. tứ đại cảnh”.

 

Và trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương lại hóa thân thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Bằng hình ảnh so sánh này, Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ cho thấy vẻ đẹp trang trọng, duyên dáng, nữ tính của dòng sông Hương mà còn thể hiện Hương giang gắn với nền văn hóa phi vật thể của vùng đất cố đô. Sông Hương chính là người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở, góp phần bồi đắp và gìn giữ nền văn hóa Huế. Cụ thể hơn thì chính sông Hương đã giúp hình thành nền âm nhạc cổ điển Huế và góp phần tạo nên vẻ đẹp trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

 

Hương giang đã sinh thành nên toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế góp phần làm nên một xứ Huế “trong sáng và thư thái” (UNESCO). Ai đã từng có dịp đến Huế thưởng thức nền âm nhạc Huế, được xem các nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc trên sông vào những đêm khuya mới thấy hết vẻ đẹp của âm nhạc và màu sắc văn hoá đặc trưng ở nơi đây. Tác giả khẳng định toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này. Từ âm thanh của dòng sông như tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền trong những đêm thanh vắng, không gian yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng của những giọt nước rơi bán âm từ mái chèo khuya … đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò và âm nhạc Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến. p

Trình diễn âm nhạc của Huế trên không gian sông nước có thể là đặc điểm riêng của văn hóa Huế nhưng cũng có thể phải biểu diễn trên sông nước giữa đêm khuya thì âm nhạc Huế mới bộc lộ hết vẻ đẹp của nó. Bởi khi ấy, môi trường diễn xướng là tiếng nước rơi trên mái chèo làm tôn thêm tiếng đàn, tiếng đàn sẽ hòa điệu với tiếng nước rơi để tạo nên một sự cộng hưởng, âm vang của bản nhạc. Vậy nên Hoàng Phủ Ngọc Tường đã  tỏ ra rất thất vọng khi nghe nhạc Huế trên sân khấu vào giữa ban ngày.

Viết về sông Hương, nhà văn còn có một phát hiện, phán đoán rất bất ngờ dòng sông Hương với âm nhạc Huế có ảnh hưởng đến kiệt tác “Truyện Kiều của Nguyễn Du. Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng đại thi hào đã phải bao năm lênh đênh trên quãng sông này, nghe nhạc Huế với một phiến trăng sầu. Môi trường văn hóa ấy đã nuôi dưỡng hồn thơ của đại thi hào, để từ đó những bản đàn đi suốt cuộc đời nàng Kiều, để từ đó, Nguyễn Du tạo nên những câu thơ tuyệt bút:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới xa nửa vời

Nhằm chứng minh cho phán đoán ấy, tác giả đã dẫn vào câu chuyện về người nghệ nhân già, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc “Truyện Kiều” chợt nhổm dậy vỗ đùi chỉ vào trang sách của Nguyễn Du mà thốt lên “Đó chính là Tứ đại cảnh”.

Như vậy, dòng sông Hương trong lòng thành phố với nhịp điệu chậm rãi, khoan thai như một điệu slow tình cảm đã tạo nên cái thần, cái hồn rất riêng của nhã nhạc cung đình Huế, tạo nên vẻ đẹp rất riêng của kiệt tác văn học dân tộc “Truyện Kiều”. Đây chính là văn hoá Huế nói chung và vẻ đẹp của sông Hương nói riêng, vẻ đẹp hiếm thấy ở bất kì 1 dòng sông nào trong nước và trên thế giới.

Bằng cảm xúc mãnh liệt thăng hoa đắm say của tâm hồn nghệ sĩ đa tình lãng mạn, kiến thức tài hoa uyên bác, ngôn từ vô cùng gợi cảm, cuộc gặp gỡ của Huế với sông Hương được tác giả cảm nhận như cuộc hội ngộ của tình yêu.. Có lẽ, chính dòng chảy chậm ấy của dòng Hương giang đã tạo nên vẻ đẹp sâu lắng, trầm mặc và rất đỗi thơ mộng cho xứ Huế.

 

Vẻ đẹp sông Hương trong mối quan hệ với văn hóa Huế

***. Sông Hương khi rời khỏi thành phố Huế

Khi rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc. Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý đặc biệt nên thủy trình của con sông đã phải thay đổi. Nó phải chuyển dòng sang hướng đông và như vậy sẽ lại đi qua một góc của thành phố Huế ở thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đó là đặc điểm địa lý tự nhiên của dòng sông Hương nhưng với sự miêu tả của một trái tim nhạy cảm, sông Hương chính là hiện thân của một người tình đằm thắm, dịu dàng, thủy chung không nỡ rời xa thành phố thân yêu của nó. Nhưng dù có níu kéo đến như thế nào thì đã tới lúc, sông Hương phải rời xa thành phố nên trước lúc giã biệt sông Hương đã dành cho Huế một cái ôm thật nồng thắm: “Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố Huế để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ”. đó là sự am hiểu về địa lí của HPNT.

 

Rời khỏi Huế rồi như sực nhớ ra điều gì điều gì chưa kịp nói với người tình yêu dấu, sông Hương đột ngột “rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối”. có 1 cái gì rất lạ với tự  nhiên và rất giống con người ở đây  Trong con mắt của người nghệ sĩ tài hoa Hoàng Phủ Ngọc Tường, khúc ngoặt ấy ĐƯỢC NHÀ VĂN NHÂN CÁCH HOÁ  gọi đấy là  nỗi “vương vấn”, thậm chí có chút “lẳng lơ kín đáo” của người tình thủy chung và chí tình. Với lăng kính tình yêu, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận thấy sông Hương ở đây giống như nàng Kiều trong đêm tình tự đã trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề chung thủy. Đây đúng là một phát hiện, một liên tưởng thú vị, độc đáo và đậm màu sắc văn chương của tác giả về dòng sông thân thương của xứ Huế. Hương giang vốn đã đẹp, nay lại càng đẹp hơn, trọn vẹn hơn trong cảm nhận của người đọc. Một vẻ đẹp hài hòa giữa hình dáng bên ngoài với phần tâm hồn sâu thẳm bên trong.

 

 

 

 

***. Sông Hương mang đặc điểm tâm hồn con người xứ Huế

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn đi sâu khám phá vẻ đẹp của sông Hương trong chiều sâu LỊCH SỬ văn hóa của xứ Huế. Sông Hương không chỉ góp phần kiến tạo nên gương mặt văn hóa Huế khi sản sinh ra nền âm nhạc Huế, những bài Nam ai Nam bình da diết… mà còn được khám phá trong mối quan hệ với con người và dòng sông mang đậm đặc điểm tâm hồn của con người xứ Huế. Bằng quá trình nghiên cứu, tìm hiểu vô cùng nghiêm túc tác giả đã nhận thấy một điều rất đặc biệt: “có một cái gì rất lạ với tự nhiên và giống với con người nơi đây”. Như thế có nghĩa là sông Hương không đơn thuần chỉ là vẻ đẹp tự nhiên mà nó còn là kết đọng rõ nét và đầy đủ của tất cả vẻ đẹp con người xứ Huế, vẻ đẹp của tính cách, tâm hồn Huế. Dòng chảy dịu êm của sông Hương là vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng của con người xứ này. Sự chí tình của Hương giang cũng bắt nguồn từ tính cách con người xứ Huế mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”. 

 

2.3. Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử, thi ca:( đoạn văn cuối )

**. Sông Hương hùng tráng và trữ tình

Trong đoạn văn, nhà văn khẳng định: “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc”. Câu văn này đã thể hiện rõ cái tôi nội cảm và bộc lộ cảm nhận của tác giả về vẻ đẹp của sông Hương có sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình.

Có thể nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn hoá Huế, ông không chỉ nhìn sông Hương ở cảnh sắc thiên nhiên, thấy nó ngày ngày mang phù sa và nguồn nước ngọt trao tặng vô tư cho những cánh đồng Châu Hóa, cho cuộc sống người dân xứ Huế; mà ông còn nhìn sông Hương như là khởi nguồn cho những giá trị tinh thần lịch sử. Dòng sông Hương là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi…” anh hùng bởi từ góc nhìn lịch sử, sông Hương đã trở thành chứng nhân của lịch sử.

+ Nó chứng kiến bao nhiêu biến thiên mà xứ Huế trải qua như ở đoạn văn trước đó nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Nó là dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong những thế kỷ trung đại nó mang tên là linh Giang, đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt.

+ Thế kỉ 18, nó soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.               Thế kỷ 19, nó sống hết lịch sử bi tráng với máu của những cuộc khởi nghĩa.

Nó đóng góp cho cách mạng tháng tám bằng những chiến công rung chuyển. Nó bị tàn phá nặng nề trong mùa xuân năm Mậu Thân… Từ đó mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nói về dòng sông Hương và xứ Huế “Lịch sử đảng đã ghi bằng nét son tên của thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho tổ quốc”.

Từ góc nhìn lịch sử, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử. Dòng chảy của của sông Hương đã đi trọn vẹn chiều dài của lịch sử dân tộc. Diện mạo và chiều sâu của lịch sử dân tộc đã đem đến cho Sông Hương một tầm vóc kỳ vĩ lớn lao. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ở đây đã phát hiện ra một vẻ đẹp của dòng sông mà không phải ai cũng nhận thấy. Đó là một vẻ đẹp của một bản anh hùng ca với sức mạnh quật khởi của dân tộc từ thuở lập quốc.

Nhà văn sau đó còn bình luận về cách dòng sông Hương cống hiến cho lịch sử dân tộc. Khi nghe lời gọi của Tổ quốc, sông Hương biết cách “tự hiến đời mình làm một chiến công”. Cũng như những dòng sông khác trên đất nước Việt Nam, cũng như con người Việt Nam, nó mang trong mình vẻ đẹp truyền thống đã làm thành bản sắc văn hóa Việt, như Huy Cận từng khái quát:

Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững

Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa

Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng

Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa.

Sông Hương là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi được viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Với lối sử dụng hình ảnh ấy, nhà văn đã nhấn mạnh dòng sông Hương vừa là một bản hùng ca, vừa là một bản tình ca dịu dàng, tươi đẹp.

Giữa đời thường, cảnh sắc thiên nhiên sông Hương chính là vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương đất nước. Hơn nữa, sông Hương còn là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”. Đó không chỉ là nét riêng trong vẻ đẹp của dòng sông Hương mà còn là vẻ đẹp của Huế. Cách đặt vế câu“viết giữa màu cỏ lá xanh biếc” của cuối câu cho thấy dù thế nào nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn cảm nhận dòng sông Hương ở v đẹp dịu dàng, trữ tình và thơ mộng.

***. Sông Hương gắn liền với nền văn hóa phi vật thể của xứ Huế

Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong nó cả nền văn hoá phi vật thể của Huế. Từ góc nhìn văn hóa ấy mà nhà văn nhận ra Hương giang khi “trở về với cuộc sống bình thường là người con gái dịu dàng của đất nước”. Nhà văn hoài niệm đến khắc khoải khi bắt gặp một sắc màu của chiếc áo cưới ở Huế xưa cũmàu áo điều lục với loại vải vân thưa màu xanh chàm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện” mà các cô dâu Huế mặc sau tiết sương giáng.

 Để rồi từ cái sắc màu văn hoá đặc trưng của Huế ấy mà tác giả liên tưởng một cách đầy ngẫu hứng mà rất có lí rằng sắc áo điều lục mà người Huế ưa thích vốn là màu của sương khói trên sông Hươnggiống như một tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông”.

Có lẽ, thông qua sự liên tưởng này nhà văn muốn ngợi ca sông Hương vì nó góp phần làm cho Huế trở thành một bức tranh thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình, muốn khẳng định sông Hương trong đời thường mang vẻ đẹp dịu dàng của một cô gái Huế, tô đậm vẻ đẹp của dòng sông trong sự gắn bó với văn hóa Huế.  Như vậy, sông Hương đã là một phần trong đời sống tâm hồn của người Huế trầm mặc, lắng sâu.

 

****. Sông Hương là nguồn cảm hứng dạt dào cho thi ca, nghệ thuật

Mặt khác, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương ở góc độ thi ca, nghệ thuật, khẳng định sông Hương cũng là cội nguồn của thi ca nghệ thuật. Có biết bao văn nhân, thi sĩ đã từng rung động với dòng sông Hương như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu… Nhà văn đã tin rằng “có một dòng sông thi ca về sông Hương và tôi hi vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”.

Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương mà thốt lên rằng: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”.

Tản Đà thấy “dòng sông trắng, lá cây xanh”.

Trong thơ Bà Huyện Thanh Quan sông Hương là “nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng”.

Sông Hương còn quả thực rất Kiều và mang sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu…

Không chỉ có thế, sông Hương còn đi vào thơ của bao nhiêu văn nhân nghệ sĩ yêu xứ Huế khác như: Thu Bồn nhìn dòng nước lững lờ của sông Hương mà bâng khuâng

Con sông dùng dằng con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”.

Và với Nguyễn Trọng Tạo, Hương giang lãng đãng một bầu khí quyển huyền thoại thi ca giúp nhà thơ thăng hoa những vần mê đắm:

“Con sông đám cưới Huyền Trân

Bỏ quên dải lụa phù vân trên nguồn

Hèn chi thơm thảo nỗi buồn

Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ

Con sông nửa thực nửa mơ

Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên”

 

 

**** chú ý:

Ý này có thể dùng để nhận xét khi phân tích các đoạn văn

Nếu như Nguyễn Tuân đã tạo cho Đà giang 1 cá tính dữ dội và trữ tình, Hoàng Cầm tạo cho dòng sông Đuống của quê hương 1 dáng nằm đặc biệt : “ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” . Thì

Hoàng Phủ Ngọc Tường lại  đem tình yêu đằm thắm lắng sâu và những cảm xúc sôi nổi, say sưa vào những trang viết để mỗi dòng văn thành lời ca, khúc nhạc tâm hồn tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương.  Đó là vẻ đẹp không thể trộn lẫn của dòng sông. Đã có nhiều tác phẩm viết về sông Hương nhưng khó ai có thể vượt qua HPNT.ông xứng đáng với danh hiệu : “ cuốn từ điển sống về Huế” .tình cảm đối với sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường, xét đến cùng, là tình cảm đối với đất nước, là tấm lòng yêu mến quê hương xứ sở nồng cháy của nhà văn.

 

3.NHẬN XÉT

“Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một bài văn xuôi đầy chất thơ. Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của bài văn là những xúc cảm sâu lắng được tổng hợp từ vốn hiểu biết phong phú về văn hóa lịch sử địa lý, văn chương với một văn phong  tao nhã, hướng nội tinh tế, tài hoa, ngôn từ phong phú, gợi hình gợi cảm, có những câu văn giàu nhạc điệu, chất thơ. Các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được sử dụng rất hiệu quả khiến cho dòng sông Hương ở ngoài đời đã đẹp nhưng qua sự miêu tả của Hoàng Phủ Ngọc Tường trở nên đẹp bội phần.

Dòng sông như một công trình nghệ thuật tuyệt vời của văn hóa, một vẻ đẹp đầy chất thơ. Bằng sự hiểu biết, sự gắn bó và tình yêu tha thiết với dòng sông Hương và xứ Huế, nhà văn đã khám phá và tô đậm vẻ đẹp của dòng sông. Nhà văn thường xuyên so sánh vẻ đẹp của sông Hương với những người con gái đẹp, từ đó phát hiện ra những vẻ đẹp tưởng chừng đối lập của dòng sông là vừa man dại, phóng túng vừa dịu dàng, say đắm; vừa thủy chung vừa đa tình; vừa kín đáo lại vừa lẳng lơ; vừa anh hùng, quật khởi nhưng cũng rất trữ tình, thơ mộng. Ai đã đặt tên cho dòng sông?” xứng đáng là một áng văn hay đặc sắc về xứ sở, về tình yêu quê hương đất nước và cũng rất tiêu biểu cho phong cách bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Dòng sông Hương trong văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường khiến cho ai đã từng đọc qua đều mong muốn được một lần đặt chân đến nơi đây, để được đắm mình trong những gì nên thơ nhất của xứ Huế.

 

Trong bài bút kí này sông Hương đã được đặt trong một cái nhìn tổng thể và toàn diện: Lịch sử và văn hóa, sinh hoạt và  phong tục, văn chương và đời sống, con người và thiên nhiên …Trong các mối liên hệ ấy, sông Hương vừa tươi đẹp, vừa thơ mộng và quyến rũ trong các sắc thái thiên nhiên vừa sâu lắng trong các giá trị văn hóa, vừa phong phú đến bất ngờ trong khả năng gợi hứng thú sáng tạo cho những người nghệ sĩ, vừa kiên cường bất khuất trong thế đứng và tinh thần khi đối diện với giặc ngoại xâm…Song dường như sau tất cả những điều đó, sông Hương vẫn mãi còn những điều bí ẩn chưa được khám phá hết nên vẫn mãi gợi niềm bâng khuâng trong tâm hồn con người. bài kí thể hiện “ cái tôi”  của tác giả – 1 cái tôi tài hoa, uyên bác  đầy mê đắm.

 

 

KB: Có NHỮNG TÁC PHẨM KHI MỚI RA ĐỜI ĐÃ VỘI VÀNG ĐI VÀO QUÊN LÃNG. NHƯNG CŨNG CÓ NHỮNG TÁC PHẨM KHI RA ĐỜI VẪN CÒN LẠI MÃI VỚI THỜI GIAN. VÀ EM THẬT SỰ ẤN TƯỢNG VỚI bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Bằng những trang viết tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần tạo một thế giới sông Hương đẹp và thơ. Hành trình của sông Hương chính là hành trình của đời người, hành trình của tâm hồn xứ Huế, của nền văn hóa Huế.

 

Đề số 2: Chất thơ trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

 

MỞ BÀI: Tk đề 1

THÂN BÀI

Giải thích:

– Bút kí: là một thể loại kí văn học ghi lại sự việc, con người, cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe nhưng bút kí không chỉ phản ánh những sự kiện khách quan mà có những nhận xét, suy nghĩ, liên tưởng và nhất là cảm xúc, do đó bút kí có chất trữ tình. Tuy nhiên, tùy theo phong cách của từng tác giả mà yếu tố trữ tình đó có thể là đậm đặc, xuyên suốt hay điểm xuyết giữa những yếu tố thuyết minh, tự sự, nghị luận…

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và chính luận, sử thi hóa lịch sử và khám phá chiều sâu văn hóa của đối tượng. Chất trữ tình trong bút kí của ông xuyên thấm vào tất cả và thăng hoa thành chất thơ của ngôn ngữ.

– Chất thơ: là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều yếu tố cảm xúc, cái đẹp, trí tưởng tượng, tính chất của cuộc sống và nhạc điệu của ngôn ngữ… Khó có thể tách các yếu tố này khỏi nhau bởi nó hòa quyện với nhau, trong từng hình ảnh, từ ngữ, câu văn, đoạn văn.

Phân tích, chứng minh

2.1. Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Tk 2.1 đề 1)

2.2. Chất thơ thể hiện qua vẻ đẹp của thiên nhiên  Sông Hương (Tk 2.2 đề 1)

2.3. Chất thơ từ một ngòi bút tài hoa:

+ Chất thơ toát ra từ những câu văn, hình ảnh đẹp, đầy màu sắc và từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…”, “Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “Sắc nước trở nên xanh thẳm”, “những ngọn đồi này tạo nên nhiều mảng phản quang nhiều màu sắc”. “Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.

+ Tác giả sử dụng rộng rãi đặc sắc những phép tu từ gợi cảm vốn là sở trường của thơ như so sánh kết hợp với nhân hóa, ẩn dụ: “Dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu, khúc quanh trước khi ra biển, như một nỗi vấn vương cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Những chi tiết về phong tục, lễ hội cũng trở thành họa, thành nhạc, thành tình, nghĩa là thành thơ. “Trăm nghìn cánh hoa đang bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trở về bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”. Đặc biệt sông Hương luôn được so sánh với những người con gái đẹp.

+ Thi trung hữu nhạc đó là nhạc của lòng, trong văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có nhạc, gợi nhớ nhạc “Điệu chảy lặng lờ của nó (sông Hương) ngang qua thành phố. Đúng là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Những câu văn trải dài, uyển chuyển, du dương mà tự nhiên, nhuần nhị như dòng sông, dòng nhạc đẹp, một “Đa Nuýp xanh” trong văn. Nhạc tính cũng được thể hiện rõ khi nhà thơ cảm nhận vẻ đẹp của dòng sông Hương trong mối liên hệ với nền âm nhạc Huế.

2.4. Chất thơ thể hiện qua dòng thi ca viết về sông Hương

Chất thơ còn lấp lánh ở cách Hoàng Phủ Ngọc Tường điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan (Tk 2.4 đề 1)

=> Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.

III. KẾT LUẬN

Bút kí cuốn hút người đọc một phần ở việc, ở trí thức, sự việc lạ, trí thức mới nhưng nếu chỉ có thế, bài bút kí sẽ không hơn một bài báo và nó nhanh qua đi mà không đọng lại trong lòng người. Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường không giống như thế, nó đầy chất liệu quý, thể hiện một vốn sống, vốn văn hóa phong phú, nhất là về Huế. Hơn thế nó còn mãi, ngân mãi vì nó đầy chất thơ. Chất thơ ấy gắn với nhiều yếu tố, bắt đầu từ nhiều nguồn nhưng yếu tố quan trọng nhất, nguồn lớn lao, dào dạt nhất là tình yêu, tình yêu tha thiết với dòng sông, với Huế, với đất nước của tác giả.

 

Đề số 3: Nghệ thuật bút kí qua “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

 

Đối tượng của bài kí

– Thể kí có xu hướng phản ánh chân thật hiện thực đời sống qua những sự thật, việc thật, con người thật. Trong bài kí, tác giả đã viết về dòng sông Hương nổi tiếng của xứ Huế mộng mơ. Dòng sông ấy đã từng được nhà thơ Hàn Mặc Tử miêu tả:

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng bắp buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay“

Hay một nhà thơ nào đó cũng ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, xứ Huế:

“Thiếu nữ thẫn thờ vê áo mỏng

Nghiêng nghiêng vành nón đứng chờ ai

Ven dòng sông phẳng con đò mộng

Lả lướt đi về trong nắng mai”

Bởi vậy, viết về dòng sông Hương là một thử thách. May thay nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vượt qua thử thách ấy để tặng cho đời bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”. Trong tác phẩm này nhà văn đã cảm nhận về đẹp của sông Hương từ nhiều góc độ, phương diện. Nhà văn đã cảm nhận từ cảnh sắc thiên nhiên sông Hương đến vẻ đẹp sông Hương từ góc độ lịch sử, văn hóa thi ca với một tâm hồn nghệ sĩ đầy rung cảm.

Hình tượng cái tôi tác giả

2.1. Một cái tôi dạt dào cảm xúc:

– Tâm thế:

+ Một người trí thức yêu nước vừa bước ra từ trong khói lửa chiến tranh,vừa bừng bừng khí thế chống giặc ngoại xâm, vừa hào hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng,một tư thế tự do, tự tin và tự hào để mà nhìn vào mối quan hệ và dòng chảy của lịch sử dân tộc để khẳng định sức sống, sức mạnh của nó.

+ Một người nghệ sỹ giàu rung động và rất lãng mạn khi chọn cho mình một điểm nhìn thật đặc biệt về con sông. Chất lãng mạn, nghệ sĩ thể hiện ở sự lựa chọn thời gian mùa thu và không gian khu vườn cổ sầm uất, một khu vườn mùa nào cũng có hoa nở.và trái chín mà vẫn thể hiện một “thần thái yên tĩnh và khoáng đạt giống như một sự tự do nội tâm”–  một không gian vừa cổ kính, vừa thắm tươi, vừa phóng khoáng. Trong không gian ấy, tâm thế của nhà văn trở nên thư thái, có sự tự do nội tâm để cảm nhận một cách tinh tế và có chiều sâu về đối tượng. Sự thư thái biểu hiện trong những hoạt động cụ thể: vừa ăn trái hồng ngọt và thanh để cảm nhận hương vị thực, vừa đọc Kiều để đắm mình trong thế giới tưởng tượng của thơ ca. Đi giữa cõi thực và cõi thơ, sống trong sự giao thoa của những rung động với khung cảnh thiên nhiên và những rung động trước một mối tình say đắm trong những trang Kiều để từ đó nhà văn có một phát hiện độc đáo về mối liên hệ giữa những câu Kiều với âm hưởng sâu thẳm của Huế: “dòng sông đáy nước in trời và những nội cỏ thơm, nắng vàng khói biếc, nỗi u hoài của dương liễu và sắc đẹp nồng nàn của hoa trà  mi, những mùa thu quan san, những vầng trăng thắm thiết…” và quan trọng nhất là nhận ra rằng sông Hương và thành phố của nó như một vang bóng trong thời gian hình tượng cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều “tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc”. Có thể thấy đó là một tư thế và tâm thế rất thích hợp với việc bộc lộ những rung động của tình yêu- một thứ tình yêu rất sâu và rất đắm say của nhà văn với con sông xứ Huế.

– Cảm xúc: vô cùng phong phú. Có khi nó đựơc bộc lộ trực tiếp với các trạng thái nội tâm: vừa thích thú, vừa lơ đãng , miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang đổi sắc không ngừng, nhớ da diết điệu chảy lặng lờ của con sông khi ngang qua thành phố, cái điệu chảy như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế trong trăm nghìn ánh hoa đăng; thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sân khấu bởi hiểu sâu sắc rằng nền âm nhạc Huế được sinh thành trên mặt nước sông Hương, là linh hồn của con sông nên chỉ là chính nó vang lên trong đêm giữa tiếng rơi bán âm của nước từ những mái chèo khuya. Có khi cảm xúc yêu thương da diết với xứ Huế lại đượcbộc lộ gián tiếp trong cuộc hành trình lặng lẽ với rất nhiều những tìm kiếm và phát hiện: Cái “tôi” tác giả khi thì chứng kiến một nghệ nhân già sau nửa thế kỷ chơi nhạc đã chợt nhận ra khúc nhạc Huế trong những trang Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”, khi bất ngờ và ngỡ ngàng nhận ra điểm tương đồng giữa con sông và con người ở “nỗi vương vấn và chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”; có khi lại cũng vì yêu Huế mà đọc văn kiện của Liên Hiệp quốc về Huế bằng sự rung động thẩm mỹ của tâm hồn để “thấy hiện bóng khuôn mặt quyến rũ và tươi trẻ của dòng sông thành phố giữa lòng thế giới hiện đại ”; đồng thời cũng hoài niệm đến khắc khoải khi phát hiện ra một sắc màu xưa cũ của chiếc áo cưới ở Huế ngày xưa, rất xưa “màu áo lục điều với loại vải…ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện” để từ cái sắc màu văn hoá ấy mà liên tưởng một cách rất ngẫu hứng mà có  lí tới “màu của sương khói trên sông Hương giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông”.

=> Cảm hứng: niềm say sưa tìm kiếm và khẳng định vẻ đẹp riêng, sức cuốn hút, quyến rũ riêng của con sông xứ Huế ở các phương diện không gian và thời gian, lịch sử và văn hoá. Cả bài tuỳ bút dường như là cuộc hành trình tìm kiếm cho câu hỏi đầy khắc khoải “Ai đã đặt tên cho dòng sông” Và cuộc tìm kiếm, lý giải cái tên của dòng sông đã trở thành cuộc tìm kiếm đầy hào hứng và say mê không chỉ vẻ đẹp của diện mạo hình hài mà còn là độ lắng sâu của tâm hồn và rung động. Con sông xứ Huế hiện lên trong cuộc tim kiếm của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không chỉ là con sông địa lý mà là một sinh thể, một con người “sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều” vừa xinh đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổi cùng lịch sử lại vừa đằm thắm lắng sâu với nền văn hoá riêng của nó. Rõ ràng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem tình yêu đằm thắm lắng sâu và những cảm xúc sôi nổi say sưa phổ vào trang viết để rồi mỗi dòng văn như một nốt nhạc trong bản đàn lòng để tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương. Đọc bài tuỳ bút dễ thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường rất tinh tế khi lắng nghe và chiêm nghiệm những cảm xúc, cảm giác phong phú và những ý nghĩ sâu xa. Vì thế cái  dễ nhận thấy từ những trang văn là chất trữ tình đậm đà đằm thắm.

 

 

2.2. Một cái tôi nghiêm túc cẩn trọng trong tìm kiếm và phát hiện

* Công phu tìm hiểu và thể hiện vốn kiến thức phong phú về sông Hương:

Có thể nói trong bài bút ký pha tuỳ bút này, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động vốn kiến thức tổng hợp nhiều mặt về con sông Hương từ địa lý, lịch sử, văn hoá, văn chương và đời sống, tự nhiên và khảo cổ, cái hiện sinh và những gì thuộc về xa xưa…Đọc bài viết có thể thấy công phu nghiên cứu, tìm hiểu của nhà văn thật đáng nể: vừa quan sát để thấy được từng nét diện mạo của con sông trong từng khoảng không gian cụ thể, vừa nghiên cứu để thấy mối  liên hệ giữa đặc điểm địa lý với đặc điểm dòng chảy của con sông, vừa tìm hiểu con sông trong từng thời kỳ lịch sử, vừa thâm nhập thực tế để nhận biết một cách cụ thể những nếp sinh hoạt, những cách thức lao động, những hương vị riêng của cỏ cây, hoa trái, đất đai, vừa đọc tư liệu, sách vở để hình dung ra quá khứ một thời vang bóng trong những dấu tích còn lại của thành quách, đình đền. Trong khối lượng kiến thức được huy động, đáng kể nhất là kiến thức địa lý, lịch sử và văn hoá. Các mặt kiến thức này không tách  rời nhau, không độc lập tồn tại mà hoà quyện, hỗ trợ nhau tạo thành một điểm tựa vững chắc cho ngòi bút nhà văn khi miêu tả con sông của xứ Huế.

* Nghiêm túc nhìn nhận vẻ đẹp của dòng sông trong mối quan hệ với con người: Cả bài tuỳ bút là cuộc hành trình hào hứng và cẩn trọng, say sưa và rất nghiêm túc để tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “Ai dó đặt tên cho dòng sông”. Đây là câu hỏi ngỡ như bâng quơ của một nhà thơ nào đó khi đến với Huế song cũng là một câu hỏi đầy ngụ ý của chính Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hỏi như một cách để xác lập mối quan hệ giữa dòng sông với con người, giữa cái tên của dòng sông với cách nhìn, cách nghĩ  và những cảm nhận của con người về nó. ý thức về điều này nên trong khi tìm hiểu về sông nhà văn cũng rất công phu tìm hiểu về cuộc sống và con người bên dòng sông ấy. Nghĩa là con sông đã được đặt trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với con người. Trong mối liên hệ ấy, sông đã được soi ngắm từ nhiều góc độ, thời gian và không gian, văn hoá và lịch sử, sinh hoạt và phong tục, đời sống sinh hoạt và thế giới tinh thần…Và trong quá trình tìm hiểu “Ai dó đặt tên cho dòng sông”, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bộc lộ mình không chỉ là một cái tôi giàu hiểu biết, ham tìm hiểu mà còn là một cái tôi rất mực tinh tường và vô cùng sâu sắc trong những khám phá, tìm hiểu những chiều sâu văn hoá tinh thần, tâm hồn của sông Hương cũng là của con người xứ Huế.

* Trải nghiệm và viết

Thành công của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong tuỳ bút này không chỉ do nhà văn biết lắng nghe và xúc động, biết nghiên cứu, tìm hiểu và suy ngẫm mà còn bởi người nghệ sỹ ấy có thực tế từ những chuyến đi. Đọc bài tuỳ bút cũng rất dễ để thấy rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường rất hay đi: “Xuân hạ thu đông tôi vẫn thường lên thăm vườn An Hiên của bà Tùng ở Kim Long ” để từ đó  “từ mái rêu phong của chiếc cổng vòm quay ra mặt sông” mà cảm nhận cái âm hưởng sâu thẳm của Huế trêm mỗi trang  Kiều. Song nhà văn lại cũng ý thức sâu sắc rằng “Nếu chỉ mải  mê ngắm nhìn khuôn mặt kinh thành của nó, người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó”. Vì thế nhà văn đã thực hiện một cuộc hành trình theo suốt chiều dài của con sông từ nơi khởi nguồn giữa lòng Trường Sơn với rừng già, ghềnh thác, vực xoáy để rồi chuyển dòng liên tục mà hoà mình với cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại và bắt đầu hành trình tìm kiếm thành phố tương lai của nó. Và bởi cũng đã từng biết đến sông Xen của Pari, sông Đanuyp của Buđapet, sông Nêva của Nga mà Hoàng Phủ Ngọc Tường có thể nhận ra nét riêng của Sông Hương trong nhịp điệu, trong sắc thái văn hoá và trong quan hệ của nó với thành phố của mình. Trong những chuyến đi dọc sông Hương, chuyến đi về làng Thành  Trung có một vai trò quan trọng đặc biệt bởi nó cho nhà văn không chỉ những thông tin, dấu vết về một khu thành cổ, một vùng đất chiến lược thuở xa xưa mà còn là một cơ hội để nhận rõ bản lĩnh Việt sâu sắc, một sức sống Việt thật mãnh liệt, một tâm hồn Việt thật giàu có phong phú, một khí đất thật hùng hậu và hương đất thật nồng nàn…

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết về sông Hương không chỉ bằng cảm nhận và hiểu biết về dòng sông mà còn bằng cảm nhận và hiểu biết về con người Huế để từ đó mà thấy một cách sâu sắc và thấm thía rằng, không chỉ đặc điểm địa lý mà quá trình lịch sử cùng với diện mạo văn hoá do con người tạo nên đã hình thành cho sông Hương một diện mạo, dáng vẻ và cả một tâm hồn.

2.3. Một cái tôi tài hoa và vô cùng lãng mạn.

– Giàu tưởng tượng (quá trình tâm lý xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở kinh nghiệm của cá nhân và thực tiễn của đời sống): Sở dĩ bài bút ký này của Hoàng Phủ Ngọc Tường được cho là có nhiều chất tuỳ bút có lẽ một phần vì nhà văn không thuần tuý chỉ ghi chép một cách chính xác khách quan mà còn biết tạo cho mình rất nhiều cơ hội để tưởng tượng: Viết về con sông song lại không bắt đầu từ việc quan sát thực tế, từ việc đi thực địa mà lại bắt đầu từ việc đọc Kiều để cảm nhận văn chương hoà quyện với cảm nhận về con sông xứ Huế. Và phút nhận ra cuộc gặp gỡ giữa âm hưởng sâu thẳm của Huế với cảnh sắc thiên nhiên qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du trên mỗi trang Kiều cũng chính là lúc nhà văn tưởng tượng về mối quan hệ giữa sông Hương và thành phố của nó là mối quan hệ của một cặp tình nhân lý tưởng với tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc. Cũng trong trí tưởng tượng bay bổng của nhà văn, sông Hương khi là một dòng nhạc đa âm sắc (bản trường ca rầm rộ của rừng già, điệu slow của tình cảm, bản đàn lúc đêm khuya với tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo), khi là một con người giàu nữ tính và có đủ sức mạnh để trưởng thành dần trong cuộc hành trình (cô gái Digan phóng khoáng và  man dại giữa rừng Trường Sơn, người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở với sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ giữa chốn kinh thành). Song có một điều quan trọng là, trong cuộc hành trình dù không ít những gian truân và cũng không hề ngắn ngủi ấy phẩm chất nữ tính của sông Hương khiến nó luôn tự bộ lộ mình là một người con gái rất mực đa tình: dù với tâm hồn tự do và trong sáng hay sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ thì hành trình của sông cũng là hành trình tìm kiếm người tình mong đợi để khi gặp được rồi, sông Hương trở nên mềm hẳn đi “như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”, rồi cũng như Kiều khi gặp chàng Kim, sông Hương gặp Huế đã trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya để rồi khi phải lưu luyến ra đi, sông Hương như chưa nỡ rời xa thành phố  mà cố ý đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông – tây để gặp lại thành phố lần cuối trong “nỗi vương vấn” “chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” như nàng Kiều trong đêm tình tự đã chí tình trở lại cùng Kim Trọng để nói một lời thề mà sự vang vọng của lời thề ấy, trong tưởng tượng và sự hình dung của nhà văn chính là giọng hò dân gian “Còn non- còn nước- còn dài -còn về- còn nhớ…”

Trí tưởng tượng mạnh mẽ và phong phú khi kết hợp với cái kho vốn cảm xúc, cảm giác rất dồi dào mà cũng vô cùng tinh tế sâu sắc đã tạo nên một chất thơ chan chứa trên mỗi trang văn và một sức lôi cuốn khó cưỡng lại đối với người thưởng thức.

– Vốn chữ nghĩa và sức sáng tạo: Thông thường người ta chỉ nói “Thi trung hữu hoạ” “Thi trung hữu nhạc”. ở đây ta có thể hoàn toàn tự tin mà nói về chất nhạc, chất hoạ, thậm chí là sự hoà quyện lý tưởng giữa chất nhạc, chất hoạ và chất thơ trong chữ nghĩa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hãy nghe nhà văn diễn tả cảm giác của mình “Mùa thu tôi ngồi đọc Kiều dưới mái rêu phong của chiếc cổng vòm quay mái ra sông ăn trái hồng ngọt và thanh đến độ tưởng như mỗi miếng vừa ngậm vào nửa chừng đã tan ra thành dư vang của một tiếng chim”. Chỉ có ăn một trái hồng thôi mà thấy đủ cả hương vị, thanh sắc của đất trời, huống hồ là khi đối diện với với một con sông của một miền đất mà mình yêu mến, tự hào và gắn bó. Dường như có bao nhiêu góc nhìn, điểm nhìn về con sông thì có bấy nhiêu kiểu chữ nghĩa được huy động để diễn tả cho thật riêng, thật sắc, thật tinh góc nhìn, điểm nhìn ấy: Cần đặt con sông trong không gian địa lí thì nó là “một bản trường ca của rừng già rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào dưới đáy vực bí ẩn, dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đổ quyên rừng, dịu dàng và trí tuệ khi trở thành bà mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở, mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá, trầm mặc như triết lí, như cổ thi gữa đám quần sơn lô xô, đền đài lăng tẩm và rừng thông u tịch , vô tư giữa những biền bãi xanh biếc, yên tâm kéo một nét thẳng khi nhìn thấy chiếc cầu của thành phố in ngầm trên nền trời…” Cần đặt con sông trong tổng thể những sắc màu văn hoá thì nó trở thành một “vang bóng trong thời gian hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều”, lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ”, điệu chảy lặng lờ như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy. Cần đặt sông Hương trong dòng chảy lịch sử thì sông Hương lại là “dòng sông của thời gian ngân vang, của sử viết giữa màu cỏ lá xanh biếc ”, khi “tự biến đời mình thành một chiến công ”, khi lại trở về “làm một người con gái dịu dàng của đất nước ”.Đây không phải thứ chữ nghĩa mà ta quen gặp trong văn xuôi thông thường.Lối chữ nghĩa giàu hình ảnh và thấm đượm cảm xúc đó là kiểu chữ nghĩa thường chỉ thấy nhiều trong thi ca, nó khiến người đọc không chỉ tiếp nhận được những thông tin cần thiết mà còn có thêm hứng thú và nguồn mĩ cảm dồi dào.

Với kho vốn cảm xúc, kiến thức, tưởng tượng và trải nghiệm thực tế lại cộng thêm vốn chữ nghĩa dồi dào mà rất đẹp, rất thơ, rất công phu, trau chuốt thậm chí đôi khi còn hơi làm dáng điệu đà, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thực sự  mê hoặc được người đọc để hoàn toàn chủ động trong việc dẫn dắt người đọc đi theo nhà văn để hào hứng thưởng thức vẻ đẹp của một dòng sông không phải như con sông địa li vô tri mà như một con người- một người con gái có nhan sắc, có tâm hồn, có sức sống và cũng đầy sức mạnh để đi hết cuộc hành trình, sống trọn vẹn đời sống và khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh và lý tưởng của nó.

Hình tượng nghệ thuật dòng sông Hương.

3.1. Dòng sông xinh đẹp và đa cảm

* Vẻ đẹp đa dạng và đầy quyến rũ

+  Luôn được nhìn nhận và khẳng định trong mối quan hệ với không gian địa lí. Dường như chính sự phong phú của đặc điểm địa lí ở vùng đất mà sông Hương đi qua đã góp phần hình thành nên vẻ đẹp của dòng sông. Vì vậy để thấy được vẻ đẹp phong phú của sông Hương cần xem xét nó trong sự gắn bó với không gian, với địa hình và cảnh thiên nhiên trong từng khoảng thời gian cụ thể

+ Không gian núi rừng Trường Sơn

– Đặc điểm và cấu trúc địa lí: vô cùng phong phú với bóng cây đại ngàn, ghềnh thác, vực sâu, dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng…Tất cả tạo nên một môi trường để thử thách, rèn luyện và hình thành tính cách, tâm hồn cho sông Hương.

– Đặc điểm của sông Hương trong môi trường địa lí ấy: dòng chảy khi rầm rộ, khi mãnh liệt, khi cuộn xoáy, khi lại dịu dàng và say đắm. Phần hồn riêng của sông được bộc lộ trong hành trình và qua đặc điểm dòng chảy là phần hồn của một con người đã trải qua cả một quá trình trưởng thành từ con gái trở thành bà mẹ: vừa mang sức sống mãnh liệt và hoang dại, vừa có diện mạo dịu dàng trí tuệ, vừa có tâm hồn trong sáng thẳm sâu lại vừa dạt dào một khát vọng tự do.

+ Không gian châu thổ vùng Châu Hoá

– Đặc điểm địa lí: là sự chuyển tiếp từ vùng đồi núi sang vùng đồng bằng nên rất đa dạng về địa hình: có vực sâu, có đồi núi trùng điệp, có thềm đất bãi, có vùng lăng tẩm giữa mây trời và rừng thông.

– Đặc điểm của dòng sông: Như một người con gái đẹp vừa tỉnh giấc mộng đã bộc lộ tính cách riêng, tâm hồn riêng- chuyển dòng liên tục, uốn khúc quanh co để tự tìm kiếm và bộc lộ vẻ đẹp riêng của nó. Dòng chảy của sông phẳng lặng, hiền hoà, trầm mặc “như triết lí, như cổ thi”, sắc nước của sông xanh thẳm khi qua lòng vực, phản chiếu màu sắc của đồi núi, mây trời khi qua những quả đồi “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, hình thế của sông thay đổi theo hình thế của địa hình, lúc uốn khúc quanh co, lúc lại mềm như tấm lụa.

+ Không gian kinh thành Huế:

– Đặc điểm địa lí: Huế trong tổng thể là một đô thị cổ nằm suốt dọc 2 bờ sông-nhiều biền bãi, nhiều cồn đảo và những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp đô thị.

– Đặc điểm của sông: càng trở nên mềm mại, gợi cảm và đa cảm hơn. Dòng chảy hiền hoà, chậm rãi và yên tĩnh như mặt nước hồ. Diện mạo vô cùng xinh đẹp, lộng lẫy với trăm nghìn ánh hoa đăng. Tâm hồn đa cảm: vừa vui tươi khi gặp vùng biễn bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, vừa hiền hoà trong những đường cong qua vùng không gian nhiều cồn đảo, vừa ngập ngừng muốn đi muốn ở khi gặp được nét riêng văn hoá Huế, vừa sâu lắng trong những khúc nhạc đêm khuya, vừa mơ màng lưu luyến khi phải rời xa thành phố, vừa vương vấn quyến luyến đến độ phải tạo nên 1 khúc quanh để vòng lại thành phố thân thương .

* Vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình:

+ Nữ tính: Đây là nét riêng của sông Hương trong cái nhìn riêng của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Sông Đà cũng được nhìn như một con người nhưng là con người với những tính cách hoàn toàn đối lập, vừa hung bạo, vừa trữ tình, lúc như một hung thần, lúc như một mĩ nữ xinh đẹp và gợi cảm). Sông Hương cũng có một đời sống và tính cách phong phú song trong sự phong phú ấy có thể thấy 1 nét thống nhất là chất nữ tính rất đậm: Khi là một cô gai Digan phóng khoáng và man dại với bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do và trong sáng, khi là một người con gái đẹp ngủ mơ màng, khi  là người con gái dịu dàng của đất nước, khi là người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở  với một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ. Dù ở bất kỳ trạng thái tồn tại nào, sông Hương trong cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn đầy nữ tính. Nữ tính không chỉ ở vẻ ngoài xinh đẹp hiền hoà hay ở tâm hồn trong sáng mạnh mẽ. Chất nữ tính đậm đà nhất của sông Hương nằm trong chính đời sống tình cảm rất riêng của nó để trở thành 1 con sông rất mực đa tình.

+ Đa tình: Ngay từ đầu bài tuỳ bút, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có một cảm nhận rất độc đáo về sông Hương trong mối quan hệ với thành phố của nó-đó là quan hệ của một cặp tình nhân lý tưởng trong Truyện Kiều “tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc”. Sông Hương sau đó vẫn được nhà văn khẳng định “là Kiều, rất Kiều”- nghĩa là không chỉ xinh đẹp, tài hoa mà còn đa tình và say đắm. Từ góc nhìn mang tính phát hiện này, nhà văn đã hình dung ra cuộc hành trình của sông Hương là cuộc hành trình tìm kiếm người tình mong đợi- một cuộc hành trình gian truân và cũng không hề ngắn ngủi, một cuộc hành trình tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Trong cuộc hành trình ấy, sông Hương có lúc trầm mặc, có lúc dịu dàng, cũng có lúc mãnh liệt mạnh mẽ…Song nó chỉ thực “vui tươi” khi đến ngoại ô thành phố, chỉ yên tâm khi nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời. Gặp được thành phố người tình mong đợi rồi, con sông trở nên duyên dáng ý nhị trong cái cách “uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến ”, cái đường cong “như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Cũng như Kiều khi gặp chàng Kim ở hội Đạp Thanh, sông Hương qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở để ánh hoa đăng chao nhẹ trên mặt nước “như những vấn vương của một nỗi lòng”. Và cũng như Kiều trong đêm tự tình với Kim Trọng, sông Hương đã rời khỏi kinh thành lại đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông- tây để gặp lại thành phố 1 lần cuối. Cái khúc quanh bất ngờ ấy, trong cảm nhận đầy lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở thành nỗi vương vấn, thành chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu, là hành động chí tình của người con gái để gặp lại người tình, nói lời thề chưa kịp nói mà âm vang lời thề ấy cho đến giờ vẫn ngân nga vang vọng trên mặt sông thành những câu hò “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ…”. Cần hiểu đây không thuần túy chỉ là tưởng tượng lãng mạn của một tâm hồn nghệ sĩ vốn rất say những trang Kiều, đây còn là cách nhìn của một trí thức vốn hiểu thấu cả dòng sông và con người của xứ sở mình. Khi con sông được hiểu là mang trong nó linh hồn của con người thì lời thề của dòng sông với thành phố chính là tấm lòng của người dân châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.

3.2. Dòng sông đằm thắm, lắng sâu:

– Cốt cách văn hóa rất riêng:

+ Cũng như nàng Kiều không chỉ có nhan sắc mà còn rất mực tài hoa, sông Hương trong cách nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là một “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”. Cái nhìn này trước hết có cơ sở từ thực tế: Sông Hương là dòng sông âm nhạc, đây cũng là nét riêng không thể lẫn của sông Hương với các dòng sông khác của đất nước. Trên đất nước Việt Nam tuy dòng sông nào cũng gắn với điệu hò, câu hát, song có được sự tồn tại song song của hai dòng nhạc cung đình và dân gian như sông Hương thì không thể có hai. Dòng nhạc cung đình rất trang nhã, rất sang trọng và cũng rất đặc sắc. Dòng nhạc dân gian cũng rất đằm thắm, da diết ân tình. Điểm gặp gỡ của cả nền âm nhạc cổ điển cũng như những câu hò dân gian là đều đã được sinh thành trên mặt nước sông Hương nên nó chỉ vang lên hay nhất trong những khoang thuyền, chỉ bộc lộ trọn vẹn sức lay động của nó với những ai từng lênh đênh trên sông nước trong những đêm khuya.

+ Dòng sông thi ca: ở điểm này, người con gái đẹp, người con gái đa tình, người tài nữ đã thực sự trở thành nàng thơ trong những tâm hồn thi sĩ. Sự phong phú của diện mạo và cốt cách văn hóa đã khiến sông Hương trong thơ ca được khám phá và rung động theo một cách rất riêng, không bao giờ lặp lại: “Từ xanh biếc … trong thơ Tố Hữu”. Và tuy có vẻ như Nguyễn  Du và Tố Hữu có một chút gặp gỡ trong cảm hứng(Nguyễn Du lênh đênh trên những con thuyền với phiến trăng sầu nên những bản đàn đã đi suốt đời Kiều, còn Tố Hữu cũng đã thấy bóng dáng những nàng Kiều trên sóng nước Hương Giang ) song Tố Hữu lại chủ yếu hướng tới khẳng định sức mạnh phục sinh trong tâm hồn những người con gái ấy bằng một cái nhìn thắm thiết tình người

+ Ngay cả đến cái tên của dòng sông Hương cũng có một vẻ rất riêng của con gái để làm bâng khuâng một tâm hồn thi sĩ và gợi nguồn thi cảm trong chính hồn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường để trong suốt quá trình tìm hiểu về con sông, không ít lần nhà văn bày tỏ niềm xúc động và những suy nghĩ chủ quan đậm đặc chất nghệ sĩ: không chỉ nhớ thương, nhà văn còn vô cùng xao xuyến mà liên tưởng mùi đất thơm với mùi da thịt, không chỉ hình dung sông Hương là người con gái mà còn thấy sông Hương hiện lên thành người con gái thần tiên.Và khi ấy cái  tên của dòng sông lại gắn với một huyền thoại đẹp, để dòng sông trở thành con sông huyền thoại được yêu quý bởi người của đôi bờ: “Vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi”

Như vậy, nhìn từ góc độ kết tinh văn hóa, con sông của xứ Huế vốn đã rất đẹp ở diện mạo, dáng vẻ lại càng đằm thắm và đầy sức mê hoặc ở chiều sâu tâm hồn. Nó khiến mỗi người khi đến với con sông không thể lấy cái tôi của mình mà áp đặt cảm nhận, chỉ có thể tìm sự hòa hợp với linh hồn của con sông để cùng sống và cùng rung động trong nỗi bâng khuâng.

– Sức sống mãnh liệt:

+ Bản năng: Dòng sông Hương, ngay từ điểm khởi nguồn giữa lòng Trường Sơn đã là “một cô gái Di gan phóng khoáng và man  dại” với bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do và trong sáng. Và cho dù sức mạnh bản năng của người con gái ấy đã được chế ngự bởi người mẹ rừng già, thì nó vẫn đủ cho sông Hương đi hết cuộc hành trình của riêng nó- một cuộc hành trình đầy gian truân qua cả ghềnh thác, vực thẳm, cồn đảo, quần sơn lô xô, đền đài, lăng tẩm, biền bãi, thành  phố, xóm làng…Và không chỉ đi hết cuộc hành trình, bản năng sống đã khiến cô gái sông Hương sống trọng vẹn cuộc sống của riêng mình: từ cô gái trở thành bà mẹ, từ say mê tìm kiếm người tình đến hào phóng nuôi dưỡng và đắp bồi một nền văn hóa.

+ Khả năng: Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mượn chính văn kiện của Liên Hiệp quốc để nói về khả năng tạo lập, hình thành và hoàn thiện nền văn hóa Huế của sông Hương. “Dòng sông và những đầm phá của nó, những dòng  kênh uốn lượn qua thành phố cũng với tư thái của những ngôi nhà giữa những khu vườn xanh tươi, tất cả mang lại cho Huế một vẻ trong sáng và thư thái, giành riêng cho cảm hứng nghệ thuật và tri thức”. Chính sông Hương đã nuôi dưỡng nguồn cảm hứng nghệ thuật, bồi đắp cho những tâm hồn nghệ sĩ để Huế có dòng thi ca và âm nhạc của riêng mình. Song cũng chính sông Hương đã bồi đắp nguồn sức sống cho đôi bờ để bốn mùa hoa trái thắm tươi, bồi dưỡng và rèn luyện bản lĩnh cho con người của một vùng đất để nhờ có bản lĩnh Việt sâu sắc mà sông Hương và con người của nó mới không bị thu hút trước sự gặp gỡ với nền văn hóa hải đảo từ  Nam Thái Bình Dương, để trong đánh giá của nhà văn, chính vùng đất hạ lưu sông Hương là cái nôi của truyền thống văn hóa Phú Xuân.

3.3. Dòng sông kiên cường mạnh mẽ, anh dũng và bất khuất.

– Kiên cường, mạnh mẽ: Sông Hương trong sự khám phá của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ được đặt trong mối quan hệ với không gian địa lý, với các giá trị văn hóa mà còn được soi ngắm từ góc độ lịch sử. Có rất nhiều khoảng thời gian được nhắc tới ở đây: thời các vua Hùng, sông Hương là một dòng sông biên thùy xa xôi, thế kỉ 15 là dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc, thế kỉ 18 soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ, thế kỉ 19 sống hết lịch sử bi tráng của những cuộc khởi nghĩa, thời đại cách mạng tháng Tám lại đem đến cho con sông những chiến công rung chuyển, thời chống Mĩ, sông Hương tuy bị tàn phá nặng nề song vẫn kiên trinh với lời thề sắt đá…Cách nhìn và cách dùng từ ngữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở đây đã làm bật sự vận động của hình tượng sông Hương từ một con sông địa lí thành một con sông lịch sử, từ một người con gái đẹp và tài hoa trở thành người con gái kiên cường của đất nước. Sông Hương không chỉ in dấu lịch sử,song hành cùng lịch sử mà còn chứa đựng lịch sử của riêng nó- một lịch sử hào hùng và dữ dội,bất khuất và đớn đau.

Chỗ tinh tường của nhà văn là đã tìm thấy chất thơ trong sử để chưng cất thành sử thi như một vẻ đẹp riêng của sông Hương: sông Hương trong lịch sử và trong cảm nhận của nhà văn đã trở thành “dòng sông của thời gian ngân vang, của sử viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”.Trong dòng chảy thời gian, sông Hương đã đI trọn vẹn cuộc sống và lịch sử của dân tộc, của đất nước. Chính diện mạo và chiều sâu của lịch sử dân tộc khi in bóng xuống dòng sông dã mang lại cho sông Hương một tầm vóc kì vĩ, lớn lao, một ý nghĩa thiêng liêng và một tinh thần bất diệt.

– Anh dũng, bất khuất: Trong quá trình khảo cứu về lịch sử của sông Hương, cũng là lịch sử của dân tộc, của đất nước, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã rất chú ý làm bật cốt cách anh hùng của dòng sông xứ Huế và của con người ở miền đất Hóa Châu.Mảnh đất Hóa Châu trong cách nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở thành “cái vũ đài quyết liệt” dựng lên để chứng tỏ “bản lĩnh đánh cận chiến của những dũng sĩ đứng trấn miền cửa khẩu chuyên đánh địch trong những khoang thuyền”. Với thế đứng sinh tử, với tầm vóc uy nghi, với mũi giáo của những người dũng sĩ, Hóa Châu đã trở thành một cửa ải Chi Lăng ở phía Nam Tổ quốc, trở thành nỗi khiếp sợ của bọn xâm lược qua các thời đại: từ tên tướng Hán Mã Viện kéo rê lưỡi gươm bình định tắm máu khắp Giao Chỉ cho đến tên tướng Minh Trương Phụ, Mộc Thạch đều phải cúi đầu lui bước, khiếp sợ khi đến đất Hóa Châu. Cho đến lúc bờ biển châu á rầm rộ tàu đồng phương Tây vào giữa thế kỉ 17, chính ngôi thành gan góc này đã dạy cho chúng bài học đầu tiên về sức mạnh Việt Nam bằng việc tiêu diệt cả một hạm đội của thực dân Hòa Lan.Đến thời chóng Mĩ, phẩm chất anh hùng và tinh thần bất khuất của người dân Hóa Châu lại một lần nữa được bộc lộ ra trong một tuyên ngôn ngỡ như giản dị mà sâu sắc vô cùng: “Tụi bây có sức thì cứ đào cho hết đất làng, xúc xuống hạm đội chở về đổ bên Mĩ. Làm cho được rồi hãy nói tới chuyện bình định cái đất Hóa Châu này”.Xưa và nay, cổ và kim hòa quyện, quấn quýt thành những kỉ niệm, ai người xưa,ai bây giờ thì lịch sử vẫn tươi rói những khuôn mặt của người cùng thời. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không chỉ nói về lịch sử của đất và người bên dòng Hương giang mà còn nghiền ngẫm sâu xa và xúc động thấm thía với những giá trị lịch sử đọng lại như lớp trầm tích của sông để con sông xứ Huế không chỉ xinh đẹp thơ mộng trong dáng vẻ mà còn rất thiêng liêng vĩ đại trong tầm vóc. Nghĩa là, đặt con sông trong dòng chảy của lịch sử cũng là thêm một thứ thước đo để Hoàng Phủ Ngọc Tường làm nổi bật vẻ đẹp riêng,sức sống riêng, linh hồn riêng của con sông quê hương.

Đánh giá:

Trong bài tùy bút này sông Hương đã được đặt trong một cái nhìn tổng thể và toàn diện: Lịch sử và văn hóa, sinh hoạt và  phong tục, văn chương và đời sống, con người và thiên nhiên …Trong các mối liên hệ ấy, sông Hương vừa tươi đẹp, vừa thơ mộng và quyến rũ trong các sắc thái thiên nhiên vừa sâu lắng trong các giá trị văn hóa, vừa phong phú đến bất ngờ trong khả năng gợi hứng thú sáng tạo cho những người nghệ sĩ, vừa kiên cường bất khuất trong thế đứng và tinh thần khi đối diện với giặc ngoại xâm…Song dường như sau tất cả những điều đó, sông Hương vẫn mãi còn những điều bí ẩn chưa được khám phá hết nên vẫn mãi gợi niềm bâng khuâng trong tâm hồn con người.

Đỗ Thủy Học Điện Tử

Tôi một người đam mê cung cấp kiến thức cuộc sống và kiến thức giáo dục văn học , vật lý , điện tử đến cho mọi người hãy cùng tôi tiếp nhận kiến thức mới nhé !
Back to top button