Văn Học

Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và đế Thích ngắn gọn

HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (LƯU QUANG VŨ)

  1. KIẾN THỨC CƠ BẢN
  2. Tác giả

– Lưu Quang Vũ (1948- 1988) là nhà viết kịch xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.

– Ông không chỉ là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX mà còn được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Với khả năng sáng tạo phi thường, chỉ trong bảy, tám năm, ông đã sáng tác khoảng 50 kịch bản và hầu hết trong số đó đều đã được trình diễn, đạt giải (Sống mãi tuổi 17; Nàng Xi-ta; Nếu anh không đốt lửa; Lời thề thứ 9; Khoảnh khắc và vô tận; Tôi và chúng ta; Hồn Trương Ba, da hàng thịt…).

Đặc điểm kịch Lưu Quang Vũ:

+ Thể hiện cuộc sống đầy ắp suy tư, mang nặng triết lí về lẽ sống và giá trị cuộc sống của con người trước những biến động và hoàn cảnh xã hội phức tạp.

+ Hấp dẫn chủ yếu bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đó khẳng định khát vọng hoàn thiện nhân cách con người.

=> Lưu Quang Vũ xứng đáng là một trong những nghệ sĩ tiên phong, tài năng trong công cuộc đổi mới của văn học Việt Nam sau năm 1975.

  1. Tác phẩm
  2. Hoàn cảnh ra đời

Hồn Trương Ba, da hàng thịt được Lưu Quang Vũ sáng tác năm 1981, ra mắt công chúng năm 1984.

– Vở kịch ra đời trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động mạnh mẽ:

+ Ngọn gió của không khí đổi mới tư duy, ý thức dân chủ trong đời sống xã hội đã ùa vào văn học. Hiện thực được phản ánh giờ đây phải có tính đa diện, đa chiều. Số phận con người, vấn đề cá nhân được khám phá đầy đủ hơn, sâu sắc hơn.

Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và đế Thích ngắn gọn
Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và đế Thích ngắn gọn

+ Văn học tham gia vào cuộc đối thoại trực tiếp trong bầu không khí dân chủ với công chúng về những vấn đề nóng bỏng của đời sống hôm nay. Đấu tranh tiêu cực trở thành cảm hứng nhiệt thành của nhiều cây bút.

→ Nguồn cảm hứng để Lưu Quang Vũ sáng tác vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

  1. Nguồn gốc của vở kịch và sự sáng tạo của tác giả Lưu Quang Vũ

– Nguồn gốc: Vở kịch được sáng tác dựa trên một cốt truyện dân gian:

Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất giỏi. Nước cờ của anh dễ thường thiên hạ không có người nào địch nổi. Tiếng đồn vang khắp nước, sang đến tận Giang Nam. Buổi ấy, ở Trung Quốc, có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền khăn gói sang Nam tìm đến nhà địch thủ. Hai người đọ tài nhau. Đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí. Thấy đối phương vò đầu suy nghĩ, Trương Ba kiêu hãnh bảo: Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng không thể gỡ nổi. Đế Thích là thần cờ ở thiên đình, bỗng nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba xúc phạm đến mình, liền cưỡi mây xuống trần, mách cho Kỵ Như mấy nước, Kỵ Như thắng. Đế Thích yêu mến Trương Ba. Thấy anh khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo anh: “Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành, vậy ta cho một bó hương này, mỗi lần cần đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống”. Nói đoạn, cưỡi mây bay lên trời.

Từ đó, Trương Ba thỉnh thoảng lại dọn cờ mời Đế Thích xuống chơi. Hai bên rất tương đắc. Nhưng một hôm, Trương Ba bị chết đột ngột. Sau khi chôn cất chồng, người vợ dọn dẹp nhà cửa, thấy có nén hương giắt ở mái nhà, chị ta lấy xuống đốt lên cắm trước bàn thờ chồngĐế Thích liền xuống, hỏi thăm thì Trương Ba đã chết rồi. Thương tiếc Trương Ba, Đế Thích làm cho hồn Trương Ba sống lại trong xác anh hàng thịt vừa mới chết.

Nói chuyện trong nhà người hàng thịt lúc đó, mọi người đang xúm quanh linh sàng khóc lóc kể lể thì tự nhiên thấy người chết ngồi nhỏm dậy, đi thẳng một mạch về nhà Trương Ba. Vợ Trương Ba thấy người hàng thịt, biết là thần Đế Thích đã làm cho chồng mình sống lại, mừng rỡ đón vào.  Vợ người hàng thịt cũng chạy theo níu lấy chồng. Đôi bên cãi cọ nhau, cuối cùng biến thành cuộc đấu khẩu rất kịch liệt. Xóm làng không biết phân xử ra sao, đành đem việc đó lên quan.

Quan sai đem một con lợn vào công đường cho anh hàng thịt mổ, nhưng anh ta lúng túng không biết làm thế nào cả. Quan lại sai mấy người giỏi cờ vào tỉ thí với người hàng thịt thì không ngờ, người đó đi những nước cờ rất cao không ai địch nổi. Quan bèn phán cho về nhà Trương Ba. Vì thế mới có câu “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. (Theo Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam).

– Sáng tạo: Trong truyện dân gian, nhân vật Trương Ba được sống yên ổn trong thân xác anh hàng thịt. Truyện dân gian đề cao linh hồn, tuyệt đối hóa linh hồn, không để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn. Còn trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ thì nhân vật Trương Ba phải sống trong nỗi đau khổ, giày vò khi bị rơi vào nghịch cảnh “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”. Điểm kết thúc của truyện dân gian lại là khởi đầu của những mâu thuẫn cơ bản trong vở kịch của Lưu Quang Vũ. Từ đó, tác giả gửi tới người đọc thông điệp: thể xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau; con người không thể chỉ sống bằng thể xác, mà phải luôn luôn đấu tranh với bản thân để có sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác, hướng tới một lối sống cao thượng, vươn tới một nhân cách hoàn thiện.

→ Lưu Quang Vũ đã thổi vào tích xưa một luồng gió mới. Kịch bản của ông không đơn thuần là chuyện vay mượn xác – tái sinh. Đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, qua mâu thuẫn giữa linh hồn (thanh cao) và thể xác (phàm tục), vở kịch đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân sinh sâu sắc.

  1. Tóm tắt : Vở kịch gồm 7 cảnh:

Cảnh I: Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích trên thiên đình

Nam Tào, Bắc Đẩu ngồi làm công việc điểm tên những người phải chết trong một ngày. Đế Thích, tiên cờ muốn tỏ ý muốn xuống hạ giới tìm người đánh cờ cho vui. Vì vội đi dự tiệc ở dinh Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào vội gạch bừa một người có tên là Trương Ba.

Cảnh II: Trương Ba (vốn là một người rất cao cờ) đang chăm vườn và trò chuyện cùng vợ và cháu gái, con trai, con dâu thì Trưởng Hoạt đến chơi cờ. Lúc Trưởng Hoạt rơi vào thế bí, Trương Ba rung đùi phán: “Thế cờ này họa có Đế Thích mới gỡ nổi”. Đế Thích nghe có người nhắc đến tên mình liền xuất hiện, giúp Trưởng Hoạt gỡ thế cờ. Trước khi về trời, Đế Thích đưa cho Trương ba mấy nén hương và dạy cách sử dụng khi cần gặp mình. Sau đó, Trương Ba đột ngột qua đời.

Cảnh III: Cảnh Thiên đình

Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích đang trò chuyện thì vợ Trương Ba lên (Bà vô tình thắp ba nén hương của Đế Thích). Khi biết chuyện Nam Tào gạch ẩu tên chồng, vợ Trương Ba đòi trả mạng sống cho chồng mình. Đế Thích khuyên Nam Tào, Bắc Đẩu sửa sai bằng cách cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt mới chết để sống lại.

Cảnh IV: Nhà người hàng thịt

Xác anh hàng thịt đã nằm trong quan tài bỗng đội nắp quan tài lên, đòi về nhà Trương Ba, không chịu ở lại nhà hàng thịt. Mọi người lúc đầu ngỡ ngàng, sau đó đành chấp nhận để anh hàng thịt về theo vợ Trương Ba vì sự thật trong thể xác anh hàng thịt đúng là có hồn Trương Ba.

Cảnh V: Mọi rắc rối cho hồn Trương Ba phải mượn xác hàng thịt bắt đầu xảy ra: Lí trưởng nhân cơ hội sách nhiễu khiến con trai Trương Ba phải hối lộ mới được lí trưởng cho phép: Trương Ba phải ở nhà hàng thịt đến nửa đêm mới được về nhà mình.

Cảnh VI: Nhà người hàng thịt

Đêm đã khuya, Hồn Trương Ba giúp chị hàng thịt mổ lợn, pha thịt xong, chuẩn bị về thì vợ hàng thịt mời cơm rượu và định giữ lại. Hồn Trương Ba bị thể xác xui khiến, lúc đầu định xuôi theo, nhưng rồi vượt qua phút lưỡng lự, gỡ tay chị ta, trở về nhà.

Cảnh VII: Nhà Trương Ba

Trưởng Hoạt sang phê phán Trương ba bắt đầu đổi tính: uống rượu, thích ăn ngon, nước cờ đi cũng khác. Lí Trưởng lại đến gây khó dễ. Con trai Trương Ba hư hỏng, chỉ nghĩ đến tiền và trục lợi. Vợ Trương Ba buồn khổ định bỏ đi. Cháu gái không nhận ộng nội. Con dâu xót xa vì bố chồng không còn như xưa. Bản thân Trương Ba cũng bất lực với chính mình.

Một cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt diễn ra, trong đó, xác hàng thịt khẳng định sức mạnh và thế lấn tới của hắn đối với hồn Trương Ba.

Hồn Trương Ba đốt một nén hương gọi Đế Thích xuống giải thoát cho mình. Cùng lúc, cu Tị, con chị Lụa hàng xóm, bạn thân cháu nội Trương Ba ốm nặng, sắp chết. Đế Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị nhưng Trương Ba kiên quyết chối từ, xin cho cu Tị được sống, trả lại xác cho hàng thịt, chấp nhận cái chết.

Phần kết: Hồn Trương Ba nhập vào màu xanh cây cỏ trong vườn, trò chuyện với vợ. Cu Tị và cái Gái ăn na và gieo hạt cho nó mọc thành cây mới.

→ Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ, đã công diễn nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước.

  1. Nhan đề

– Nguồn gốc: Đây là nhan đề của truyện dân gian, được Lưu Quang Vũ giữ nguyên khi chuyển thể thành vở kịch.

– Ý nghĩa:

+ Hồn: Thế giới bên trong con người, bao gồm cảm xúc, suy nghĩ, khát vọng… -> Đó là ẩn dụ cho phần thanh cao, trong sạch, nhân hậu, xứng đáng với danh nghĩa con người.

+ Xác: Cái bên ngoài-> Đó là ẩn dụ cho sự tầm thường, dung tục.

→ Hồn Trương Ba, da hàng thịt gợi cảm giác về sự vênh lệch giữa linh hồn và thể xác, giữa hình thức và nội dung, giữa bên ngoài và bên trong. Nhan đề hé mở những mâu thuẫn, xung đột cơ bản, xuyên suốt vở kịch.

  1. Một số nhận định về tác giả và tác phẩm

“Kịch Lưu Quang Vũ chứa đựng những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người” (Phan Trọng Thưởng).

“Lưu Quang Vũ đã táo bạo đẩy những nhân vật kịch hiện đại của mình vào sự lột xác, sự trăn trở nghĩ suy, sự sám hối đến quyết liệt đặng tìm cách giải quyết những vấn đề văn hóa đang ráo riết đặt ra cho sự phát triển xã hội Việt Nam hiện đại” (PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái).

– “Cùng với thời gian, có thể nhiều vở diễn phục vụ các yêu cầu kịp thời của Vũ sẽ bị quên đi. Nhưng riêng tôi cứ tin là rồi cái vở kịch mượn tích xưa này rồi sẽ trên sân khấu một thời gian dài nữa” (Ngô Thảo).

. “Hồn Trương Ba, da Hàng thịt” từ truyện cổ dân gian đến kịch bản của Lưu Quang Vũ – Sự phát triển của một triết lý sống”.

 “….Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt  của Lưu Quang Vũ. Nó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả tạo và dung tục, bảo vệ quyền được sống đích thực và khát vọng hoàn thiện nhân cách” .

  1. Văn bản
  2. Vị trí

Thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch → Phần cao tràomở nút.

  1. Tình huống kịch

– Hồn Trương Ba phải sống nhờ trong Xác hàng thịt. Mâu thuẫn giữa Hồn và Xác lên đến đỉnh điểm.

– Tình huống kịch trong đoạn trích diễn biến qua các bước:

+ Hồn Trương Ba cảm thấy không thể sống trong xác hàng thịt. Hồn muốn tách khỏi thân xác kềnh càng, thô lỗ ấy.

+ Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác với sự đắc thắng của Xác khiến Hồn càng khổ đau và cảm thấy bế tắc.

+ Thái độ cư xử của những người thân trong gia đình: không tin, không thừa nhận Trương Ba, khiến Hồn Trương Ba càng đau khổ, tuyệt vọng, từ đó đi đến quyết định giải thoát.

+ Cuộc gặp gỡ, đối thoại cuối cùng của Hồn Trương Ba với Đế Thích và quyết định dứt khoát chấm dứt nghịch cảnh đau khổ của Hồn Trương Ba.

– Tình huống kịch nói trên thể hiện những mâu thuẫn, xung đột ở nhân vật Hồn Trương Ba và cách giải quyết của nhân vật này. Qua đó, đoạn trích toát lên ý nghĩa tư tưởng sâu sắc của đoạn trích và cũng là ý nghĩa chung của vở kịch.

  1. Nội dung

Đoạn trích tập trung thể hiện những bi kịch éo le của nhân vật Hồn Trương Ba. Qua đó, Lưu Quang Vũ muốn gửi tới người đọc một thông điệp: Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn biết đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

  1. Nghệ thuật

– Tình huống kịch phát triển tự nhiên, hợp lí. Các hành động kịch nối tiếp nhau, đẩy mâu thuẫn kịch lên đến cao trào, tạo nên kịch tính vô cùng căng thẳng, hấp dẫn.

– Kết hợp giữa việc miêu tả diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật.

– Ngôn ngữ kịch: sinh động, gắn liền với tình cảnh, tâm trạng cụ thể; giàu tính triết lý.

– Giọng điệu: biến hóa, lôi cuốn. Đặc biệt, có những lời thoại của Trương Ba với Đế Thích vừa hướng ngoại lại mang tính chất hướng nội (độc thoại nội tâm).

– Sử dụng yếu tố hoang đường, kì ảo

III. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

  1. Cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Xác hàng thịt
  2. Nguyên nhân dẫn đến cuộc đối thoại:

– Sau 3 tháng sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt, Hồn Trương ba đã thay đổi khiến mọi than phiền xa lánh (Trưởng Hoạt phê phán Tnương Ba thay tính đổi nết. Lí trưởng đến sách nhiễu. Con trai tỏ ra hư hỏng hơn. Cháu gái không thừa nhận ông. Con dâu than phiền bố chồng thay đổi => khiến Trương Ba đau khổ). Ông không muốn sống mãi như thế này, chán cái thân thể kềnh càng, thô lỗ, muốn rời xa tức khắc => dẫn đến cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt.

  1. Nội dung cuộc đối thoại:

Thực chất là cuộc tranh luận giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt xoay quanh những quan điểm khác nhau về hồn,  xác và mối quan hệ giữa các yếu tố này.

HỒN TRƯƠNG BA XÁC HÀNG THỊT
– Quan điểm:

+ Xác thịt không có tiếng nói mà đó chỉ là thứ xác thịt âm u, đui mù.

+ Trước lí của xác hàng thịt, Hồn Trương Ba, vẫn quả quyết khẳng định xác thịt chỉ là cái vỏ, ko ý nghĩa, ko có tư tưởng và không có cảm xúc.

=> xác thịt là một thứ âm u, đui mù.

 

 

 

 

 

+ Trước dẫn chứng xác đáng, Hồn Trương Ba đành phải thừa nhận, chính xác hàng thịt đã làm cho ông trở thành tàn bạo.

=> có nghĩa là ông công nhận xác thịt có tiếng, có sức mạnh chi phối lấn át mình biến mình từ một người rất thanh cao thành tàn bạo chỉ trong một thời gian ngắn.

 

Khẳng định mình có tiếng nói, tiếng nói ấy luôn sai khiến, sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả linh hồn cao khiết.

 

+ Trước lời lẽ cứng cỏi, quả quyết, với thái độ khinh thường của Hồn Trường Ba, xác hàng thịt đã đưa ra những dẫn chứng rất xác đáng để chứng minh bảo vệ cho lí lẽ của mình:

+ Khi ông đứng cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại => biểu hiện của như cầu xác thịt, xác thịt đa chi phối đến cảm xúc, tâm lí của Hồn Trường.

+ Khi xác ăn tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi đã làm cho hồn lâng lâng.

+ Chính sức mạnh của xác hàng thịt cộng thêm cơn giận của hồn TRương Ba đã tát thằng con tóe máu mồm máu mũi

Qua cuộc tranh luận này, xác hàng thịt đã giành chiến thắng thuyết phục bằng những lí lẽ, dẫn chứng rất sắc sảo và xác đáng. Điều này có nghĩa Hồn Trương Ba đang bị chi phối, bị lấn át bởi xác thịt thô lỗ, dung tục, tầm thường.
+ Hồn Trương Ba đã khẳng định mình có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch và thẳng thắn + Xác hàng thịt khẳng định: Hồn và xác đã hòa làm một => không có đời riêng và không thể tách rời. Điều này, xác đã có lập luận như sau: Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn.

Để cho lập luận thuyết phục hơn, xác hàng thịt đã đưa ra bằng chứng đến đau khi hồn TRương Ba tát thằng con tóe máu mồm, máu mũi. Cùng với đó còn là hình ảnh so sánh rất chân thực, chính xác: Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ có tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm đất trời, cây cối, những người thân… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi…

=> Xác đã phủ định những lí lẽ của Hồn Trương Ba đầy sức thuyết phục, qua đó để củng cố quan điểm: xác và thịt đã hòa làm một không thể tách rời

Cuộc đấu tranh này quan niệm của xác hàng thịt đã chiến thắng. Qua đó, phần hồn và xác là hai yếu tố không thể tách rời.

Qua đây, ta có thể khẳng định Hồn Trương Ba đã bị chi phối, lấn át, bị phụ thuộc vào xác hàng thịt.

– Ngôn ngữ:

+ Xưng hô mày – ta: thái độ khinh thường xác hàng thịt -> luôn coi xác hàng thịt là thứ cồng kềnh, thô lỗ, âm u, đui mù; luôn nghĩ rằng mình thanh cao, trong sạch, thẳng thắn

+ Lời thoại của Hồn Trương Ba càng dần càng ngắn, với những câu nói ngắc ngứ, nhát ngừng: ta…ta…đã bảo mày im đi; nhưng…nhưng => đuối lí, thất thế, bất lực trong cuộc tranh luận bởi lí lẽ xác hàng thịt đưa ra là xác đáng đủ sức thuyết phục.

+ Đa số lời thoại của Hồn Trương Ba đều là lí lẽ suông, không có căn cứ, ko có dẫn chứng nên đã thất thế.

 

 

+ Xưng hô: ông – tôi:  Chừng mực, nhã nhặn => biết được bản thân.

 

+ Lời thoại càng dần càng dài; có lập luận chặt chẽ, có dẫn chứng đầy đủ => tự tin, sự thắng thế của một người đã lấn át, đã chi phối hồn Trương Ba.

 

 

+ Thái độ của xác hàng thịt: mỉa mai; buồn rầu như phân trần tâm sự; chiều chuộng, vuốt ve, an ủi, thách thức => đa thanh, đa điệu, chuyển biến linh hoạt.

Xác hàng thịt đã lấn át thắng thế hồn Trương Ba.
Ý nghĩa:
– Hồn tượng trưng cho cái thanh cao, trong sạch, thẳng thắn

– Người, đạo đức, tâm hồn

– Xác tượng trưng cho cái dung tục, tầm thường, thô lỗ

– Con, bản năng, dung tục, tầm thường

Trong một con người luôn có hai phần: phần con và phần người; phần hồn và phần xác.

– Sống nhờ trong xác hàng thịt có sự vênh lệch rất lớn với Hồn Trương Ba => đó chính là nghịch cảnh đau đớn khi đặt cái thanh cao, cái trong với cái thô lỗ, dung tục tầm thường => thời gian rất ngắn hồn Trương Ba đã bị chi phối, bị lấn át, bị phụ thuộc phải đáp ứng và chiều theo những đòi hỏi thấp hèn có phần dung tục, tầm thường của xác hàng thịt.

=> Cảnh báo: Nếu con người ta ko biết đấu tranh chống lại nghịch cảnh, sống theo bản năng, dung tục, tầm thường thì con người có nguy cơ đánh mất chính mình. Rõ ràng, cái thanh cao, đẹp đẽ khó có thể chung sống bền vững với cái dung tục, xấu xa. Điều này đã được Nguyễn Tuân nhắc đến trong Chữ người tử tù. Điều Huấn Cao trăn trở, lo lắng nhất là viên Quản ngục sẽ bị nhem nhuốc mất đời lương thiện => Huấn Cao tha thiết khuyên quản ngục từ bỏ nơi ở, nghề nghiệp rồi mới nghĩ đến việc chơi chữ. Lưu Quang Vũ, tiếp tục đặt ra vấn đề này bằng tất sự trăn trở, sự lo lắng. Bởi ông thấu hiểu cái ác, dung tục tầm thường có sức mạnh ghê gớm dễ lấn át những cái thanh, đẹp đẽ.

+ Cái xấu, cái dung tục rất  cách chiều chuộng linh hồn.

+ Tâm hồn là thứ lắm sĩ diện và nhiều tự ái => thích được vuốt ve.

+ Con người sống giả dối (xác là bên ngoài hồn là cái bên trong, hồn và xác có sự vênh lệch nghĩa là bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo) => thường rơi vào bệnh đổ lỗi.

=> đặt ra vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân sinh.

– Cuộc đấu tranh giữa hồn và xác thực chất là cuộc đấu tranh trong con người để hoàn thiện nhân cách.

– Lời thoại của xác hàng thịt đã có sự phê phán đồng thời đặt ra quan niệm rất đúng đắn.

+ Phê phán quan điểm cũ kĩ của các nhà nho xưa: Những vị lắm chữ, nhiều sách như các ông là hay vi vào cái cớ tâm hồn là cao quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác => lệch lạc khi chỉ chú trọng đến phần hồn.

+ Phê phán quan điểm chỉ chú trọng đến thân xác => hưởng thụ chạy theo những dục vọng thấp kém => sai lầm khi con người dễ dung tục tầm thường và dễ đánh mất mình.

=> Quan sống đúng đắn là cần phải chú trọng, chăm sóc cả phần hồn và xác => thực sự có ý nghĩa khi được sống hài hòa giữa hồn và xác.

– Nghệ thuật: Bằng tình huống truyện độc đáo; lời thoại xây dựng rất hấp dẫn phù hợp với tâm lí, tính cách; kết hợp giữa yếu tố kì ảo, hoang đường cùng với những yếu tố có tính chất hiện thực => Lưu Quang Vũ đã ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân sinh sâu sắc đến tận bây giờ còn nguyên tính thời sự => giá trị nhân đạo sâu sắc của đoạn trích \
2. Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và người thân trong gia đình.

a. Đối thoại với vợ

Vợ Hồn Trương Ba
– Nhận xét về chồng: Ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa ông biết không.

-> Kiểu câu phủ định, kết cấu lặp lại hai lần “đâu còn là ông” => khẳng định TRương Ba đã hoàn toàn thay đổi, ko còn là Trương Ba ngày xưa: thanh cao, trong sạch, biết quan tâm mọi người.

– Tâm trạng:

+ Dằn dỗi, ghen: Đi cấy thuê làm mướn đi đâu cũng được để ông được thảnh thơi với cô vợ người hàng thịt.

+ Rất đau khổ khi thấy chồng mình thay đổi, ko còn như xưa. Sự đau khổ này được Trương Ba nhận xét rất tinh tế và sâu sắc: Thầy đã làm u khổ. Có lẽ cái ngày u chôn xác thầy xuống đất, tưởng thầy đã chết hẳn, u cũng không khổ bằng bây giờ.

– Tâm trạng của Trương Ba:

+ Sau lời đối thoại với vợ, Trương Ba có cử chỉ và hành động “ngồi xuống, tay ôm đầu” => hình ảnh một Trương Ba đang suy sụp, đớn đau khi nhận ra sự thật sự tồn tại của mình trong thân xác hàng thịt khiến cho người thân vô cùng đau khổ.

+ Mặc dù vậy, lúc này Hồn Trương Ba chưa tin hoàn toàn những gì vợ mình nói là sự thật vì nghĩ rằng vợ mình ghen nên mới nói vậy.

Cháu Gái Hồn TRương Ba
– Nhận xét về Trương Ba:

+ Ông không phải không nội tôi. Ông nội tôi chết rồi.

+ Ông nội tôi đời nào thô lỗ phũ phàng như vậy. Lời nhận xét này là kết quả của quá trình quan sát và so sánh giữa Trương Ba ngày xưa và Trương Ba trong thân xác của anh hàng thịt. Đứa cháu gái đã ra những bằng chứng xác đáng: Sáng qua, tôi để ý lúc ông chiết cây cam, bàn tay giết lợn của ông làm gãy tiệt cái chồi non, chân ông to bè như cái xẻng, giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm!; ông làm rách gãy cả nan, rách cả giấy, hỏng mất cái diều đẹp mà cu Tị rất quý.

=> thay đổi đã thành con người khác thô lỗ, phũ phàng.

+ ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi => Trương Ba là một con người độc ác, xấu xa => Trương Ba đã chết trong mắt cái Gái.

Xưa kia cái Gái rất thương ông. Đêm nào nó cũng khóc thương ông. Nó cất giữ từng chút kỉ niệm của ông => niềm trân trọng, sự tự hào. Càng thương ông bao nhiêu, giờ đây khi thấy ông nó hoàn toàn thay đổi trở thành con người xấu xa thì nó càng đau đớn nghẹn ngào bấy nhiêu. Cái Gái đã khóc trong đau đớn, lời nhận xét như tiếng nấc lên đau khổ => tâm hồn, trái tim ngây thơ của cái Gái như bị bóp thắt lại.

=> sự tồn tại của Hồn Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt đã gây ra nỗi đau đớn, chua xót trong lòng cháu Gái.

– Tâm trạng:

+ Qua lời thoại ngắn với nhát ngừng: ái ngại, nhỏ bé thiếu tự tin; đầy mặc cảm lỗi lầm của mình gây ra. Mỗi lời thoại là những lời đớn đau nghẹn ngào không dễ nói ra.

+ Sau lời nhận xét rất chân thật của cháu Gái hồn TRương Ba run rẩy => người như nhũn ra, như không còn sức lực khi nghe được lời nói thật đến cay đắng nỗi lòng => nhận ra sự thật phũ phàng, thì ra sự sống lại trong thân xác của anh hàng thịt đã gây bao nỗi đau khổ cho người thân yêu.

+ Tuy nhiên, Hồn Trương Ba vẫn nghĩ đứa cháu còn nhỏ, còn chưa hiểu chuyện nên mới nói những lời như vậy. Nghĩa là Hồn Trương Ba vẫn chưa thừa nhận mình hoàn toàn thay đổi. Phải đến khi đối thoại với chị con dâu, người hiểu và thương Trương Ba nhất, ông mới chấp nhận đó là một sự thật phũ phàng.

CHỊ CON DÂU HỒN TRƯƠNG BA
– Hiểu và thương Trương Ba nhất. Chị càng thương TRương Hơn, thậm chí thương hơn cả lúc khi đã chết.  Thấu hiểu khi biết bi kịch đau đớn mà TRương Ba gặp phải “bây giờ thầy khổ hơn xưa nhiều lắm”. TRong nỗi đau đớn ấy, chị con dâu đã nói ra một sự thật: u thì muốn bỏ đi; nhà ta như sắp tan hoang ra cả…

– Giãy bày hết nỗi đau của mình và cũng chính là nỗi đau của những thân yêu khi thấy Trương Ba cứ “thầy ngày một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi” => chị con dâu thấy sợ, rất đau đớn khi chứng kiến bố chồng chết dần, chết mòn trong thân xác của anh hàng thịt.

=> Hay nói cách khác chị con dâu đã khẳng định TRương Ba hoàn toàn thay đổi, ngay cả đến chị là người hiểu và thương Trương Ba nhất nhưng “chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”

– Tâm trạng rất đau đớn như đứt từng khúc ruột. Càng thương Trương Ba bao nhiêu thì chị con dâu lại càng khao Trương Ba được trở về là chính mình như xưa bấy nhiêu: “Con càng thương thầy, nhưng thầy ơi, làm sao, làm sao giữ được thầy ở lại hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy chúng con xưa kia? Làm thế nào, thầy ơi”. Đây là niềm khao khát xuất phát tận đáy lòng của một con dâu có hiếu có nghĩa. Với việc sử dụng điệp cấu trúc: làm sao; làm thế nào được lặp lại nhiều lần đã diễn hết thảy nỗi khao khát vô bờ bến của chị con dâu. Đây có lẽ cũng niềm mong mỏi của những thân trong gia đình.

– TRước lời thoại của chị con dâu, Hồn Trương Ba vô cùng đau khổ “Mặt lặng ngắt như tảng đá” => chết lặng, chết đứng khi nghe sự thật phũ phàng:

+ Mình đã hoàn toàn thay đổi khi sống nhờ trong thân xác của anh hàng thịt. Nghĩa là Trương Ba đã nhận ra bi kịch của mình khi bị rơi con đường tha hóa.

+ Sự tồn của mình trong xác anh hàng thịt là sự tồn tại vô nghĩa lí. Bởi sự tồn tại này không chỉ đánh mất chính mình mà còn gây ra biết bao đau khổ cho người thân.

– Chính cuộc đối thoại với chị con dâu là cuộc đối chứng nghiệt ngã nhất để Trương Ba nhận ra những sự thật cay đắng. Cuộc đối này đẩy mâu thuẫn, xung đột kịch lên đến đỉnh điểm. Chính vì thế, Trương Ba đã có một lời độc thoại thể hiện rất rõ tâm trạng và quyết tâm của mình. Trong lời độc thoại, Hồn Trương Ba đã thừa nhận: xác hàng thịt đã thắng thế, đã lấn át mình bằng đủ mọi cách. Vốn dĩ TRương Ba là người trong sạch thẳng thắn, có nhân cách cao đẹp nên ông không thể chấp nhận kiếp sống vô nghĩa khi mang lại sự phiền toái và đau khổ cho người thân. Quyết tâm từ chối sự sống trong cái vật quái gở: Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần! => Không cần được lặp lại hai lần cho thấy quyết tâm trả xác rất lớn.

Ý nghĩa của cuộc đối thoại với người thân

– Trong cuộc đối thoại 3 người (vợ, cháu gái, chị con dâu) đều có chung nhận xét và chung tâm trạng:

+ Trương Ba đã thay đổi không còn là Trương Ba ngày xưa => Trương Ba đã bị tha hóa sau khi sống chung trong thân xác của anh hàng thịt (sống chung với cái dung tục, tầm thường)

+ Mọi người đều rất đau khổ khi thấy người thân yêu bị tha hóa.

=> Sự tha hóa sẽ gây ra nỗi đau vô hạn cho người thân yêu trong gia đình => chính vì thế, con người cần đấu tranh chống lại nghịch cảnh, sự dung tục tầm thường để mang lại bình yên, hạnh phúc cho người thân.

– Khi Hồn Trương Ba sống lại trong thân xác hàng thịt tưởng rằng sẽ mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho gia đình (nhất là đây lại là một điều hiếm khi một trần tục chết đi sống lại) nhưng hóa ra sự tồn tại đó lại gây ra bao nỗi đau khổ cho người thân. => Không phải sự sống nào cũng có giá trị, có ý nghĩa => cuộc sống thực sự có ý nghĩa khi được sống là chính mình; khi sống một cach thanh cao, đẹp đẽ; sống thật.

– Cuộc đối thoại này có ý nghĩa đẩy mâu thuẫn lên căng thẳng, cao trào và đòi hỏi nhu cầu giải quyết để chấm dứt vật quái gở mang tên Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

   
  1. Cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích:
  2. Nguyên nhân dẫn đến cuộc đối thoại:

– Sau khi sống nhờ trong thân xác của hàng thịt, TRương Ba đã thay đổi, điều này khiến cho người thân vô cùng đau khổ. Sau khi đối thoại chị con dâu, TRương Ba đã quyết tâm “Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!” vì ông là người có tâm hồn thanh cao, trong sạch biết quan tâm đến mọi người. Nên nhận thấy sự tồn tại mình trong thân xác anh hàng thịt thật vô nghĩa.

– Hiểu người thắt nút cũng là người cởi nút cho nên TRương Ba đã gọi Đế Thích => cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích.

=> Đây là cuộc đối thoại có nhiều ý nghĩa triết lí, nhân sinh và đặt ra nhiều ý nghĩa xã hội sâu sắc.

  1. Nội dung cuộc đối thoại: Hồn Trương Ba đã bày tỏ về quan niệm sống, triết lí sống cùng những khao khát mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

– Ngay khi gặp Đế Thích, Trương Ba đã  khẳng định “tôi không thể tiếp tục mang thân xác anh hàng thịt được nữa, không thể được”. Ở lời thoại này Hồn Trương Ba sử dụng câu phủ định “không thể” 2 lần => mâu thuẫn giữa hồn và xác đã lên đến cao trào không thể hòa giải. Đồng thời, Hồn Trương Ba nhận thấy mình không thể sống kiếp sống nhờ nhục nhã, đau khổ; kiếp sống giả dối gây bao phiền toái khổ đau.  Khi đã ý thức được bi kịch của kiếp sống nhờ, sống chung với cái dung tục tầm thường bị người thân xa lánh; sống giả dối bên trong một đằng bên ngoài một nẻo thì Trương Ba lại càng khát được sống chính mình bấy nhiêu. Vì thế ông đã khẳng định “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Nói ra điều này, Hồn Trương Ba ý thức được ý nghĩa của sự sống được là chính mình, hài hòa giữa hồn và xác quan trong như thế nào. Bởi vì ông nhận thấy sống nhờ vào đồ đạc của người khác là không nên, chứ không nói là sống nhờ trong thân xác người khác. Đồng thời, TRương Ba nhận ra ý nghĩa của cuộc sống không phải là tồn tại mà là sống thế nào, sống ra sao cho có ý nghĩa.

=> Quyết định trả lại thân xác cho anh hàng thịt vì Trương Ba nghĩ rằng “chúng sẽ sống hòa thuận với thân anh ta, chúng sinh ra là để sống với nhau” => bởi vì TRương Ba đã thấm thía nỗi khổ đau của kiếp sống nhờ, sống giả dối bên trong một đằng bên ngoài một nẻo.

=> Còn TRương Ba sống ở đâu cũng được miễn là không trong thân xác hàng thịt. Có lẽ, TRương Ba nghĩ rằng do mình sống chung với cái dung tục, tầm thường, cồng kềnh thô lỗ nên mới bị tha hóa, biến chất; mới bị người thân xa lánh hắt hủi. Còn nếu sống trong thân thể một người đẹp đẽ hơn thì có thể sẽ không bị như vậy.

  1. Tình huống mới: Cái chết của cu Tị => có tính chất quan trọng trong việc cởi nút câu chuyện để kết thúc bi kịch sống nhờ, giả dối “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

– Cái chết của cu Tị đã tạo ra một phép thử mới: Đế Thích đề nghị Hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị => rất là hợp ( xác hàng thịt xa lạ, còn cu Tị thì thân quen quấn quýt quý mến nhau; ở trong thân xác cu Tị Trương Ba sẽ có cả một cuộc đời trước mặt)

– Hồn Trương Ba đã xin suy nghĩ để đưa ra quyết định, tưởng tượng, hình dung khi sống trong xác của cu Tị => rắc rối, phiền toái:
+ Giải thích với chị Lụa; chị sẽ không nguôi nhớ con

+ Hàng xóm, lí trưởng, trương tuần

+ Vợ, con, cháu gái sẽ nghĩ ngợi, xử sự như thế nào.

+ làm trẻ con không phải dễ

=> oái oăm, rắc rối hơn.

+ Cô đơn, lạc lõng; trở thành kẻ tham lam ngang nhiên hưởng thụ lộc trời.

=> Nhận ra sự thật: không thể sống nhờ trong thân xác người khác bằng bất cứ giá nào; ko thể sống giả dối, bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Hồn Trương Ba đã phát biểu tầm vĩ mô và có tính chất triết lí nhân sinh sâu sắc; phép thử mới đã làm sáng tỏ mọi điều:

+ Không thể sửa sai tùy tiện => chắp vá, gượng ép làm cho cái sai càng sai thêm. Chính vì thế, một là không sai, hai là bù lại bằng một việc làm đúng đắn.

+ Trương ba đã sáng tỏ về sự lựa chọn của mình: chết thì để cho chết hằn =>Hồn Trương Ba đã mong muốn, khát khao lớn:

Lựa chọn cái chết để mong cứu sống cu Tị, trả lại thân xác cho anh hàng thịt => nhân văn: cứu sống được 2 người; trở về là chính mình; thức tỉnh mọi người: không thể sống giả dối, sống nhờ bằng mọi giá; hạnh phúc nhất được sống là chính mình.

 

sống chết
– Sống nhờ trong thân xác của hàng thịt

 

– Hàng thịt và cu Tị được sống lại; sống là chính mình: trong sáng, thanh thản như xưa; kết thúc tác phẩm Trương Ba lựa chọn cái chết nhưng ông lại sống trong tâm trí của mọi người.

– Chết dần, chết mòn trong tâm trí của người thân trong gia đình.

– Lựa chọn cái chết

=> Chết không phải là điều đáng sợ => đáng sợ nhất là chết khi đang còn sống => Nam Cao miêu tả phản ánh qua tiểu thuyết Sống mòn

=> Chết không phải là hết, là chấm dứt => chuyển sang kiếp sống mới: sống trong tâm trí mọi người

=> Cuộc sống chỉ thực sự hạnh phúc; thực sự đáng sống khi mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho mọi người đặc biệt là người thân trong gia đình => Muốn vậy, con người cần sống thật; đấu tranh chống lại nghịch cảnh, dung tục tầm thường để hoàn thiện nhân cách.

Tồn tại Không tồn tại
– TRong thân xác anh hàng thịt

 

 

– Tồn tại trong vườn cây, hoa lá, trong tâm trí mọi người

– Không tồn tại một TRương Ba làm vườn trong sạch, thẳng thắn, thanh cao => mọi người yêu quý.

– Quyết định không tồn tại, quyêt định giải quyết vật quái gở mang tên Hồn Trương Ba, da hàng thịt

=> Ranh giới giữa thiện – ác; xấu – tốt; sống – chết; tồn tại và không tồn tại: mong manh như một sợi tóc.

 

  1. HỆ THỐNG CÁC DẠNG ĐỀ ÔN LUYỆN

DÀN Ý CHUNG:

  1. MB:

C1: Mở bài trực tiếp:

          . Đoạn trích …đã… Từ đó, ta thấy được …

C2: Mở bài gián tiếp:

+ Diễn dịch: Đi từ đặc trưng của văn học:

 MB1:          “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng câu chuyện cổ tích do chính cuộc sống viết ra”. (Andecxen). Cuộc sống với những âm thanh muôn sắc, với những hình ảnh muôn màu lại chính là chiếc nôi nâng giấc cho những trang truyện, trang thơ. Văn học bắt nguồn từ cuộc đời giống như những hạt nảy mầm trên đất mẹ rồi tỏa hương tô sắc cho cuộc sống thêm xinh tươi. Đó dường như đã trở thành quy luật bất diệt của văn chương, nghệ thuật. Còn gì đẹp hơn khi nhà văn viết về cuộc sống để ca ngợi con người? Văn chương thật lớn lao và đầy ý nghĩa khi đi sâu và khám phá từng cảm giác, suy nghĩ, chiều sâu nội tâm để từ đó ta yêu quý, trân trọng những con người bình dị nhất, để ta phải giật mình, sửng sốt khi nhận ra vẻ đẹp lấp lánh ẩn chứa bên trong tâm khảm họ. Đó là lúc nhà văn lý giải cuộc sống theo cách của riêng mình. Vậy nên, “nhà văn có thể viết về bóng tối nhưng từ bóng tối phải hướng đến ánh sáng”. Phải chăng, cũng vì lẽ đó mà nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã đi sâu phản ánh những mâu thuẫn, xung đột trong nhân vật Hồn Trương Ba trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”.  Đoạn trích …đã… Từ đó, ta thấy được …

MB2:  Những tác phẩm văn học xuất sắc bao giờ chở đi được những tư tưởng lớn của thời đại trên đôi cánh của hiện thực cuộc sống. Cánh diều văn học dù bay cao bay xa đến đâu vẫn gắn với mảnh đất cuộc sống bằng sợi dây hiện thực vô cùng bền chắc.  “Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than”, “Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn” (Nam Cao). Có lẽ thấu hiểu điều này nên nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đi sâu vào đời sống xã hội đương thời để tìm ra những mâu thuẫn, những vấn đề tồn tại để lại những trăn trở trong lòng người bằng những vở kịch vô cùng nổi tiếng. Tiêu biểu trong số đó là “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa triết lí và nhân sinh sâu sắc. Đoạn trích …đã… Từ đó, ta thấy được …

B, Thân bài:

  1. Khái quát:
  2. Khái quát về tác giả (dành cho mở bài gián tiếp)
  3. Khái quát về tác phẩm (dành cho mở bài trực tiếp và gián tiếp)

Hồn Trương Ba, da hàng thịt được viết vào năm 1981, ra mắt công chúng lần đầu năm 1984. Tác phẩm dựa theo cốt truyện dân gian nhưng đã được Lưu Quang Vũ đã thổi vào tích xưa một luồng gió mới. Kịch bản của ông không đơn thuần là chuyện vay mượn xác – tái sinh. Đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, qua mâu thuẫn giữa linh hồn (thanh cao) và thể xác (phàm tục), vở kịch đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân sinh sâu sắc.

  1. Tóm tắt qua tác phẩm đến đoạn trích cần phân tích:
  2. Phân tích cảm nhận đoạn trích:
  3. Luận điểm 1.

HS thực hiện theo 4 bước sau

Bước 1: nêu luận điểm.

Bước 2: Trích dẫn chứng đặt trong ngoặc kép.

Bước 3: Phân tích dẫn chứng: chú ý từ ngữ, cử chỉ, hành động và diễn biến tâm trạng của nhân vật. Cần đặt nhân vật, đoạn trích trong những hoàn cảnh cụ thể để phân tích mạch lạc hơn. Cần đặt nhân vật trong bối cảnh văn hóa, xã hội, trong mối tương quan với các nhân vật trong tác phẩm khác để thấy được nét độc đáo đặc sắc của nhân vật.

Bước 4: Đánh giá và đi đến kết luận về luận điểm 1: Đặt nhân vật trong thước đo văn hóa, trong bảng tham chiếu tâm lí để đánh giá sự nổi bật của luận điểm.

  1. Luận điểm 2: làm tương tự như luận điểm 1.
  2. Luận điểm 3:
  3. Tiếu kết: Tóm lược lại nội dung đã triển khai ở các luận điểm 1, 2 và 3.
  4. Đánh giá nâng cao:
  5. Đánh giá nội dung: Cần chỉ ra cái đặc sắc của đoạn trích.
  6. Đánh giá về nghệ thuật:

 

  1. Lí luận văn học:

Mọi dòng sông đều đổ về biển rộng, cũng như mọi khám phá sáng tạo đều có đích hướng về, những vấn đề thuộc về con người, nhân sinh, nhân bản. Bởi lẽ, con người là một trung tâm của văn học nghệ thuật. Văn học có thể viết về mọi vấn đề của đời sống, mọi hình thức sáng tạo, nhưng đều hướng tới để đặt ra và cắt nghĩa những vấn đề của nhân sinh. Văn học chân chính phải là thứ văn chương vị đời, nhà văn chân chính phải là nhà văn vì con ngươi, phẩm mới đạt tới tầm nhân bản. Muốn vậy “Nhà văn chân chính là phải nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê – Khốp). Chính vì thế, văn học phải hướng tới cuộc sống, phải khơi gợi được những tình cảm nhân văn cao đẹp, đánh thức được lòng trắc ẩn đang ngủ sâu trong trái tim mỗi người đọc. Văn chương phải giúp ta người hơn. Từ những điều trên, ta có thể khẳng định nhà văn Lưu Quang Vũ đã hoàn thành sứ mệnh của một nhà văn chân chính khi tạo ra những trang viết chan chứa giá trị nhân đạo.

  1. Lệnh phụ: Khi làm lệnh phụ các em cần thực hiện các bước sau:

Bước 1: Khái niệm:

Bước 2: Biểu hiện trong tác phẩm hoặc đoạn trích.

Bước 3: Đánh giá ý nghĩa của lệnh phụ đó đối với tác phẩm.

  1. KB:

– Nói tóm lại, đoạn trích đã thể hiện rất chân thành, sâu sắc…

HƯỚNG DẪN CÁC ĐỀ CỤ THỂ:

Đề 1. Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có đoạn:
Xác hàng thịt:
(Bắt đầu) Vô ích, cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia, ông không tách ra khỏi được tôi đâu dù tôi chỉ là thân xác..

Hồn Trương Ba: A, mày cũng biết nói kia à? Vô lý mày không thể biết nói! Mày không có tiếng nói, mày chỉ là xác thịt âm u đui mù…

Xác hàng thịt: Có đấy! Xác hàng thịt có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn

luôn bị tiếng nói ấy sai khiến. Chính vì âm u đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả linh hồn cao khiết của ông!

Hồn Trương Ba: Nói láo! Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc!

Xác hàng thịt: Có thật thế không?

Hồn Trương Ba: Hoặc nếu có thì chỉ là những thứ thấp kém mà bất cứ con thú nào cũng thèm được: Thèm ăn ngon, thèm rượu thịt..

Xác hàng thịt: Tất nhiên, tất nhiên. Sao ông không kể tiếp: Khi ông ở bên nhà tôi…Khi ông đứng, bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại.. Đêm hôm đó suýt nữa thì…

Hồn Trương Ba: Im đi, đấy là mày chứ, chân tay mày hơi thở của mày…

Xác hàng thịt: Thì tôi có ghen đâu! Ai lại ghen với chính thân thể mình nhỉ? Tôi chỉ trách là sao, đêm hôm ấy, ông lại tự dưng bỏ chạy, hoài của… Này nhưng ta nên thành thật với nhau một chút: Chẳng nhẽ ông không xao xuyến chút gì à? Hà hà, cái món tiết canh cố hữu, khấu đuôi và đủ các thứ thú vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc được sao? Để thoả mãn tôi, chẳng nhẽ ông không tham dự vào chút đỉnh gì? Nào hãy thành thật trả lời đi!

Hồn Trương Ba: Ta… ta đã bảo mày im đi!

Xác hàng thịt: Rõ là ông không dám trả lời. Giấu ai chứ không thể giấu tôi được. Hai ta đã hoà với nhau làm một!

Hồn Trương Ba: Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: Nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…

Xác hàng thịt: Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!

Hồn Trương Ba: (Bịt tai lại) Ta không muốn nghe mày nữa!

Xác hàng thịt: (Lắc đầu) Ông cứ việc bịt tai lại! Chẳng có cách nào chối bỏ tôi được đâu! Mà đáng lẽ ông phải cảm ơn tôi. Tôi đã cho ông sức mạnh. Ông có nhớ hôm ông tát thằng con ông toé máu mồm máu mũi không? Cơn giận của ông lại có thêm sức mạnh của tôi! Ha ha..

Hồn Trương Ba: Ta cần gì đến cái sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo.

Xác hàng thịt: Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục! Đâu phải lỗi tại tôi.. (Buồn rầu) Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng chứ! Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất cây cối người thân… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi… Khi muốn hành hạ tâm hồn con người. Người ta xâm phạm thể xác.. Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào có tâm hồn là quý, khuyên con người ts sống với hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở nhếch nhác.. Mỗi bữa cơm rôi đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ?

Hồn Trương Ba: Nhưng…nhưng…

Xác hàng thịt: Hãy công bằng hơn, ông Trương Ba ạ! Từ nãy tới giờ chỉ có ông nặng lời với tôi,

chứ tôi thì vẫn nhã nhặn với ông đấy chứ? (Thì thầm). Tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn.

Hồn Trương Ba: Chiều chuộng?

Xác hàng thịt: Chứ sao? Tôi thông cảm với những trò chơi tâm hồn của ông. Nghĩa là những lúc một mình một bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi. Làm xong điều gì xấu ông cứ đổ tội cho tôi, để ông được thanh thản. Tôi biết cần phải để cho tính tự ái của ông được ve vuốt. Tâm hồn là thứ lắm sĩ diện. hà hà…miễn là.. ông vẫn làm đủ mọi việc để thoả mãn những thèm khát của tôi!

Hồn Trương Ba: Lý lẽ của anh thật ti tiện!

Xác hàng thịt: Ấy đấy, ông bắt đầu gọi tôi là anh rồi đấy! Có phải lí lẽ của tôi đâu, tôi chỉ nhắc lại những điều ông vẫn tự nói với mình và những người khác đấy chứ! Đã bảo chúng ta tuy hai mà một mà!

Hồn Trương Ba: (Như tuyệt vọng) Trời!

Xác hàng thịt: (An ủi) Ông đừng nên tự dằn vặt làm gì! Tôi đâu muốn làm khổ ông, bởi tôi cũng

rất cần đến ông. Thôi, đừng cãi cọ nhau nữa. Chằng còn cách nào khác đâu! Phải sống hoà thuận với nhau thôi! Cái hồn vía ương bướng của tôi ơi, hãy về với tôi này!

(Hồn Trương Ba bần thần nhập lại vào xác hàng thịt).

Cảm nhận của anh/ chị về những xung đột giữa Hồn Trương Ba và Xác hàng thịt trong đoạn trích trên. Từ đó, rút ra ý nghĩa triết lí mà tác giả muốn gửi tới người đọc.

Gợi ý:

* Phân tích đề:                                                                            

– Vấn đề nghị luận: Xung đột giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt; ý nghĩa triết lí tác giả muốn gửi tới người đọc.

– Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn trích. Từ đó, rút ra nhận xét, đánh giá, khái quát.

Thao tác lập luận: Phân tích, chứng minh, bình luận…

– Phạm vi dẫn chứng: Đoạn đối thoại giữa Hồn và Xác trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

* Dàn ý:

  1. Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

 

C1: Trong cuộc sống, mỗi người đều lựa chọn cho mình 1 cách sống nhưng có lẽ  cách sống được nhiều người lựa chọn đó là sống là chính mình, sống đúng với lương tâm đạo đức. Tố hữu đã từng viết: “ ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn?”. Mỗi người chúng ta đều mong ước có 1 cs tốt đẹp, theo đuổi những giá trị sống của mình. Đó cũng là điều mà nhà viết kịch LQV  rất trăn trở và gửi gắm qua vở bi kịch HTB,DHT. song có thể nói, toàn bộ những giá trị nội dung và sáng tạo nghệ thuật của tác phẩm được tập trung lắng kết trong đoạn trích sau: ( trích dẫn) . qua đó ta thấy được ý nghĩa triết lí mà tác giả muốn gửi tới người đọc

C2:  Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch xuất sắc. Ông không chỉ là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX mà còn được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại..rất tiêu biểu cho những sáng tác của ông là vở kịch Hồn Trương Ba , da hàng thịt….song có thể nói, toàn bộ những giá trị nội dung và sáng tạo nghệ thuật của tác phẩm được tập trung lắng kết trong đoạn trích sau: ( trích dẫn) . qua đó ta thấy được ý nghĩa triết lí mà tác giả muốn gửi tới người đọc.

 

B, Thân bài:

1 .Giới thiệu Khái quát

Hồn Trương Ba, da hàng thịt được viết vào năm 1981, ra mắt công chúng lần đầu năm 1984. Tác phẩm dựa theo cốt truyện dân gian nhưng đã được Lưu Quang Vũ đã thổi vào tích xưa một luồng gió mới.

Trương Ba là một ông lão làm vườn 60 tuổi, có tài đánh cờ, giỏi làm vườn, có tâm hồn thanh cao trong sạch. Do sự sơ xuất, tắc trách Nam Tào, Bắc Đẩu mà ông bị bắt chết nhầm. Sự sửa sai của Nam Tào, Bắc Đẩu theo lời khuyên của Đế Thích nhằm trả lại công bằng cho Trương Ba lại đẩy Trương Ba vào một nghịch cảnh vô lí hơn.. Sống lại trong thể xác hàng thịt, Hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái,  Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, cả những người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình. Bản thân Trương Ba cũng bị lây nhiễm một số thói xấu cùng với những nhu cầu vốn không phải của bản thân ông…. Ý thức được tình trạng “vênh lệch” của mình, Trương Ba vô cùng đau khổ. Hồn Trương Ba đã tách khỏi Xác hàng thịt và cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác đã diễn ra.

  1. Phân tích đoạn trích:

2.1 . Tâm thế của hồn Trương Ba trong cuộc đối thoại:

Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, Lưu Quang Vũ đã để cho hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” và tự giãi bày tâm sự, nỗi lòng của mình “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc!”. Tư thế ngồi “ôm đầu” đã cho người đọc thấy hình ảnh của một con người đầy đau khổ, lại có sự kết hợp của ba từ phủ định liên tiếp “không…không…không” …

Có thể thấy hồn Trương Ba đang đau khổ, bức bối là bởi ông không còn được là mình nữa. Ông phải sống trong thân xác của một kẻ khác và cái thân xác ấy làm ông ghê tởm. Ông ước muốn có hình hài riêng và muốn được tách ra khỏi xác hàng thịt dù chỉ giây lát. Nắm bắt được nguyện vọng của nhân vật, Lưu Quang Vũ đã sáng tạo ra tình huống hồn và xác phân thân để đối đáp với nhau. Tưởng rằng, khi tách ra khỏi xác hàng thịt, hồn sẽ phần nào giải tỏa được nỗi đau khổ bị dồn nén bấy lâu nhưng hóa ra không phải vậy.

2.2. Xác hàng thịt lấn lướt, sỉ nhục hồn Trương Ba

    Trong cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt , thì hồn Trương Ba gọi xác hàng thịt là mày, sau đó gọi là anh. Xác hàng thịt gọi hồn Trương ba là ông. Dựa trên cách xưng hô này thì vai trên vai dưới rất rõ ràng. Hồn Trương Ba ở vai trên và xác hàng thịt ở vai dưới.

Tuy nhiên, trong cuộc đối thoại xác hàng thịt không hề lép vế, yếu thế mà còn lấn lướt và sỉ nhục hồn Trương Ba. Bởi vì xác hàng thịt ngày càng ý thức được vai trò của nó. Nó nói” “Có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến. Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả linh hồn cao khiết của ông đấy! Nó còn khẳng định nó là “cái bình để giữ linh hồn”, nhờ nó mà hồn Trương Ba mới có thể làm lụng, cuốc xới, ngắm nhìn trời đất, người thân.

Xác thịt tuy âm u, đui mù nhưng có thể lấn át, sai khiến, thậm chí đồng hóa linh hồn cao khiết. Hồn không thể còn nguyên vẹn, trong sạch, khi phải chung sống và chiều theo những đòi hỏi của xác thịt dung tục.

Để chứng minh điều đó nó đã kể ra những việc mà hồn Trương Ba đã làm dưới sự sai khiến của nó. Đó là cái đêm khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với “tay chân run rẩy”, “hơi thở nóng rực”, “cổ nghẹn lại”“suýt nữa thì…”. Hồn Trương Ba sống trong thể xác phàm tục của người hàng thịt giờ đã có cảm xúc lâng lâng trước các món ăn mà trước đây ông cho là dung tục như tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi. Khi giận dữ, hồn Trương Ba đã sử dụng vũ lực một cách tàn bạo với con trai. Với sức mạnh của xác hàng thịt, ông đã tát thằng con đến toé máu mồm, máu mũi…

Rõ ràng, Hồn Trương Ba đã nhiễm những thói hư tật xấu của xác hàng thịt. Xác anh hàng thịt còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ông đưa ra để ngụy biện: Nó nói “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!”. Nó còn sỉ nhục  khi nói Trương Ba hãy chơi trò chơi tâm hồn. Hãy thỏa mãn nó và mỗi khi làm việc xấu hãy đổ tội hết cho nó. Hãy cứ nghĩ mình cao khiết nhưng chỉ vì hoàn cảnh.

Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hả hê tuôn ra những lời thoại dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo, khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn Trương Ba thanh cao, trong sạch phải sống với xác hàng thịt thô lỗ, phàm tục, đầy thói hư tật xấu đã là đau khổ lắm rồi. Vậy mà thật sỉ nhục khi xác hàng thịt nhắc đi nhắc lại cái điều “Đã bảo chúng ta tuy hai mà một mà!”.

Ngoài ra, xác hàng thịt còn bày tỏ những bất công mà mình phải gánh chịu khi sống với linh hồn Trương Ba “tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục! Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng chứ!”. Xác hàng thịt cho rằng khi sống chung với hồn Trương Ba nó bị xúc phạm, bị bỏ bê nhếch nhác, khổ sở…vì những lý do không chính đáng. Chẳng hạn “Mỗi bữa cơm tôi đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ?”. Một mặt nó đấu tranh cho những nhu cầu chính đáng của mình, mặt khác nó tìm cách ve vuốt, đề nghị hồn Trương Ba trở về sống hoà hợp với mình.

Nhìn chung, trong cuộc đối thoại, xác hàng thịt có thế chủ động, đặt nhiều câu hỏi phản biện, lí lẽ giảo hoạt, trở thành kẻ thắng thế, buộc Trương Ba phải quy phục.

2.3. Thái độ của Hồn Trương Ba trước sự lấn lướt sỉ nhục của xác hàng thịt

Khi tách khỏi xác hàng thịt, hồn Trương Ba có cơ hội bày tỏ tâm trạng uất ức, tức giận vì phải chung sống với cái xác thô lỗ, tầm thường, dung tục. Hồn cũng không che giấu sự coi thường, khinh bỉ đối với xác là “kẻ âm u đui mù, không cảm xúc, không tư tưởng, không có tiếng nói”…; kẻ có nhu cầu vật chất thấp kém gần với con thú (thèm ăn ngon, thèm rượu thịt), sức mạnh thể chất gắn với sự tàn bạo… Hồn cũng phủ nhận sự lệ thuộc của linh hồn vào xác thịt, khẳng định linh hồn có đời sống riêng: “nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”… Ông mắng xác hàng thịt là “lí lẽ của anh thật là ti tiện” và “Ta…ta…đã bảo mày im đi”…Nhưng trước lí lẽ của xác hàng thịt, Trương Ba cuối cùng cũng phải thừa nhận rằng mình đuối lí, mình đang sống nhờ thể xác kẻ khác và bị thể xác đó điều khiển, dẫn đến sự tha hoá không có cách gì chuyển biến được.

–  Cuộc tranh luận của Hồn Trương Ba với xác hàng thịt cuối cùng cũng đi đến hồi kết. Xác hàng thịt thắng thế, buộc Hồn Trương Ba phải quy phục xác, còn Hồn Trương Ba cam chịu, buộc phải chấp nhận, lúng túng trước những lí lẽ của thể xác, bởi bản thân Hồn ý thức rõ ràng sự tha hóa diễn ra trong những hành động nhỏ nhất của đời sống

+ Kết thúc cuộc đối thoại, Hồn Trương Ba dằn vặt, đau đớn, hoang mang, tuyệt vọng trở về cuộc sống trái với chính mình. Chi tiết “Hồn Trương Ba bần thần nhập lại vào xác hàng thịt, ngồi lặng lẽ bên chõng” diễn tả cô đọng tính chất căng thẳng của xung đột kịch: mâu thuẫn không những không được giải quyết mà còn được đẩy lên đến một mức cao hơn.

Tâm trạng Hồn Trương Ba: Từ ngạc nhiên sang phẫn nộ, lúng túng, cay đắng bất lực chấp nhận sự hiện hữu, bành chướng của thể xác đến đuối lí, ấp úng, chỉ biết rồi kêu trời. Nhưng thẳm sâu ý thức vẫn không chấp nhận những ý đồ xấu xa muốn lấn át của xác

→ Diễn biến tâm trạng phức tạp trên cho thấy Hồn Trương Ba đang sống trong thế giới nội tâm đau khổ, dằn vặt, giằng xé.

  1. 4: Ý nghĩa triết lí qua cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Xác hàng thịt

– Hồn và xác là hai phương diện của một con người, một nhân cách. Con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa, đây là hai phần có quan hệ hữu cơ với nhau:

+ Linh hồn giữ vị trí chủ đạo và có cơ sở vật chất là thể xác, điều này có cơ sở từ triết học nhận thức lí tính phải bắt đầu từ cảm tính, cũng như tình cảm hình thành từ quan hệ cụ thể đời thường, như cảm xúc thẩm mĩ dựa trên cảm quan thị giác, thính giác…

+ Xác cũng có tính độc lập tương đối của nó, cũng có tiếng nói riêng, nhu cầu tự nhiên của nó.

Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi.

Linh hồn phải chịu trách nhiệm cuối cùng về hành động của thân xác. Khi con người bị chi phối bởi nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổi cho thân xác, không thể vỗ về, an ủi mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Linh hồn phải kiểm soát những nhu cầu tự nhiên của thân xác, phải điều chỉnh nó nhưng không thể phủ nhận, phớt lờ nó. Không thể coi cái nào quan trọng hơn cái nào giữa phần hồn và phần xác.

– Chúng ta cần tôn trọng cả thân xác. Thân xác là một phương diện không thể thiếu của một nhân cách con người vì “Ra khỏi thân xác hồn chẳng có nghĩa lí gì” .

– Sự gắn bó giữa hồn và xác là quan trọng nhưng không thể theo cách lấy xác của người này ghép vào hồn người khác, bởi mỗi con người là thực thể riêng biệt không lặp lại. Khi Xác hàng thịt kêu gọi  Hồn Trương Ba “phải sống hòa thuận với nhau” tức là kêu gọi một sự gán ghép khiên cưỡng, bất hợp lí.

– Tác giả cảnh báo “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, khi con người phải sống trong dung tục thì dung tục sẽ ngự trị, sẽ dần thắng thế, lấn át và tàn phá những gì trong sạch, đẹp đẽ cao quý của con người. Con người cần đấu tranh để hướng đến cái thiện, cái tốt đẹp.

– Con người ta hạnh phúc nhất là được sống đúng với chính mình, sống trong sự hài hòa giữa thân xác và tâm hồn.

– Con người phải làm chủ những ham muốn để không bị tha hóa, băng hoại, để có sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác, vươn tới một nhân cách toàn vẹn.

=> Như vậy, Hồn và Xác là những ẩn dụ nghệ thuật lớn, và cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác là một tình huống kịch đặc sắc, tô đậm bi kịch “bên trong  một đằng, bên ngoài một nẻo” ở mỗi con người.

Từ những xung đột bên trong con người qua cuộc đối thoại có tính giả tưởng giữa linh hồn và xác thịt, Lưu Quang Vũ hướng tới một vấn đề mang chiều sâu triết học: những bi kịch nảy sinh từ sự tồn tại đầy nghịch lí, trái tự nhiên khiến cái dung tục có cơ hội ngự trị, lấn át và đồng hóa những gì vốn thanh cao, tốt đẹp. Từ đó, tác giả đề xuất và cổ vũ cho cuộc đấu tranh bảo vệ những phẩm chất cao quý của con người nhằm hướng tới khát vọng sống trong sạch, hài hòa giữa thể xác và tâm hồn, vật chất và tinh thần và hoàn thiện nhân cách.

  1. Nhận xét

. Nội dung

Đoạn trích tập trung thể hiện những bi kịch éo le của nhân vật Hồn Trương Ba. Qua đó, Lưu Quang Vũ muốn gửi tới người đọc một thông điệp: Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn biết đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

. Nghệ thuật

– Tình huống kịch phát triển tự nhiên, hợp lí. Các hành động kịch nối tiếp nhau, đẩy mâu thuẫn kịch lên đến cao trào, tạo nên kịch tính vô cùng căng thẳng, hấp dẫn.

– Kết hợp giữa việc miêu tả diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật.

– Ngôn ngữ kịch: sinh động, gắn liền với tình cảnh, tâm trạng cụ thể; giàu tính triết lý.

– Giọng điệu: biến hóa, lôi cuốn. Đặc biệt, có những lời thoại của Trương Ba với Đế Thích vừa hướng ngoại lại mang tính chất hướng nội (độc thoại nội tâm).

– Sử dụng yếu tố hoang đường, kì ảo

 

 

Kết bài

Có những tác phẩm khi mới ra đời đã vội vàng đi vào quên lãng. Song cũng có những tác phẩm khi mới ra đời vẫn còn lại mãi với thời gian. Và em thật sự ấn tượng với vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt  . đây là vở bi kịch đặc sắc trên nhiều phương diện: Sự kết hợp giữa nội dung hiện thực với yếu tố kì ảo, nghệ thuật tạo tình huống và dẫn dắt xung đột kịch, sắc thái đa dạng của lời thoại khiến cho tâm lí nhân vật được phơi trải, sát với đặc trưng thể loại, ngôn ngữ kịch giàu chất triết lí, giọng điệu tranh biện độc đáo. Qua đó, tác giả gửi gắm tư tưởng triết lí về đạo đức và nhân sinh sâu sắc, không chỉ có ý nghĩa một thời mà còn có ý nghĩa muôn đời.

 

Đề 2. Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2017). Từ đó, rút ra ý nghĩa phê phán của đoạn trích.

Gợi ý:

* Phân tích đề:

– Vấn đề nghị luận: Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba; ý nghĩa phê phán mà Lưu Quang Vũ gửi gắm trong tác  phẩm .

– Kiểu bài: Nghị luận về một nhân vật văn học. Từ đó, rút ra nhận xét, đánh giá, khái quát.

Thao tác lập luận: Phân tích, chứng minh, bình luận…

– Phạm vi dẫn chứng: Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

* Dàn ý:

  1. Mở bài:

Giới thiệu về Lưu Quang Vũ, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt và bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba

– Hiện tượng Lưu Quang Vũ là sự thăng hoa của tài năng nghệ  sĩ cùng không khí sôi động của xã hội Việt Nam những năm tám mươi của thế kỉ XX và tinh thần nhân văn, dân chủ trong đời sống văn học lúc bấy giờ.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt được ra mắt vào năm 1984, là một trong số rất nhiều những vở kịch nổi tiếng của nhà viết kịch tài ba này. Vở kịch mang ý nghĩa phê phán sâu sắc.

  1. Thân bài
  2. Khái quát:
  3. Phân tích:
  4. Luận điểm 1: Giải thích

– Bi kịch: Hiểu theo nghĩa thông thường nhất là tình cảnh éo le, đau đớn của con người.

– Nhân vật bi kịch: Là nhân vật có tài, có hoài bão, khát vọng cao cả và đã cố gắng để thực hiện, nhưng lại bị một thế lực nào đó cản trở khiến cho những hoài bão, khát vọng đó không thể thực hiện được. Cuối cùng, nhân vật phải sống trong sự dày vò, đau khổ hoặc thậm chí phải tìm đến cái chết.

→ Nói đến “bi kịch”: là nói đến trạng thái đau khổ về tinh thần khi con người đứng trước những mâu thuẫn không thể hóa giải, giữa mong muốn, khát vọngthực tiễn hoàn toàn trái ngược.

  1. Luận điểm 2: Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba

* Hoàn cảnh dẫn đến bi kịch: Trương Ba là một người làm vườn có lối sông thanh cao, thích đọc sách, đánh cờ, yêu công việc của mình là ươm những mầm xanh cho cuộc sống. Do một việc làm tắc trách của Nam Tào, Trương Ba bị chết oan. Để sửa sai, Đế Thích – vị tiên cờ trên Thiên đình đã cho hồn Trương Ba được sống trong xác anh hàng thịt. Hoàn cảnh đó nảy sinh bi kịch của Hồn Trương Ba.

* Bi kịch của Hồn Trương Ba

– Bi kịch bị tha hóa:                               

+ Trước đây: Trương Ba là người làm vườn chăm chỉ, quan tâm tới vợ con, chăm sóc yêu chiều các cháu, hòa thuận tốt bụng với xóm làng. Bởi vậy mà ông được tất cả mọi người yêu kính, quý trọng.

+ Từ khi sống trong thể xác anh hàng thịt: Hồn Trương Ba đành phải chiều theo một số nhu cầu hiến nhiên của xác thịt. Xác thịt âm u đui mù, song vẫn có tiếng nói riêng, sức mạnh riêng. Linh hồn nhân hậu, trong sạch, bản tính ngay thẳng của Trương Ba xưa kia, nay vì phải sống mượn, gá lắp, tạm bợ và lệ thuộc nên chẳng những đã không sai khiến được xác thịt thô phàm của anh hàng thịt mà trái lại còn bị cái xác thịt ấy điều khiển. Đáng sợ hơn, linh hồn Trương Ba dần dần bị nhiễm độc bởi cái tầm thường của xác thịt anh đồ tể.

+ Trương Ba cảm nhận được sự thay đổi của chính mình, dù không muốn thừa nhận:“Không! Ta vẫn có một đời sống riêng, nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…”, dù đổ lỗi cho xác: “ Đấy là mày chứ, chân tay mày, hơi thở của mày” nhưng Trương Ba vẫn không thể phủ nhận được một sự thật đau đớn là ông đang dần đánh mất mình: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm được đủ mọi cách để lấn át ta”.

– Bi kịch bị người thân xa lánh:

+ Nguyên nhân: Sự thay đổi của Trương Ba khiến những người thân và hàng xóm láng giềng không sao hiểu nổi. Càng yêu quý con người trước đây của Trương Ba, họ càng không thể chấp nhận con người hiện tại của ông.

+  Biểu hiện: Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết muốn bỏ đi. Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”. Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị cũng thốt thành lời cái nỗi đau đó: “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”.

+ Tâm trạng của Trương Ba: Trương Ba vô vùng đau khổ, tuyệt vọng. Nỗi đau khổ biểu hiện ra ở sự lúng túng, bất lực trong cách nói, trong sự nhẫn nhục, chịu đựng của tư thế, trong vẻ nhợt nhạt của thần sắc. Qua những biểu hiện ấy, có thể thấy Trương Ba phải mang một gánh nặng tinh thần vượt quá khả năng của ông.

– Bi kịch sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo:

+ Con người bên trong của Trương Ba: gắn với những nhu cầu tinh thần cao. Trương Ba muốn bảo vệ lương tâm, giữ gìn danh dự, muốn sống có đạo đức và trách nhiệm và sống thanh thản trong những niềm vui giản dị như chăm sóc cây vườn và các cháu…

+ Con người bên ngoài của Trương Ba thì lại khác: Con người bên ngoài Trương Ba gắn với những nhu cầu của thể xác phàm tục. Trương Ba bây giờ cũng thèm ăn thịt, thô lỗ, vụng về và muốn được thỏa mãn những dục vọng tầm thường…

→ Mối quan hệ giữa bên ngoài và bên trong con người Trương Ba: Sự không phù hợp giữa hồn và xác đã tạo nên một cuộc sống giả tạo và tồi tệ đến mức chính Trương Ba cũng cảm thấy rất “quái gở”. Cuộc sống ấy là nguyên nhân căn bản dẫn tới nỗi khổ tâm của Trương Ba “sống thế này còn khổ hơn là cái chết” và làm khổ những người thân của ông.

  1. Luận điểm 3: Cách giải quyết bi kịch:

+ Trương Ba không chấp nhận buông xuôi trước hoàn cảnh nghiệt ngã. Khi nhận thấy rằng không thể thay đổi được Xác hàng thịt để Xác có thể hòa hợp với hồn, Trương Ba quyết định từ bỏ mối quan hệ với cái xác ấy: “Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”, “Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”.

+ Lời nói của Trương Ba với Đế Thích, khi gọi Đế Thích xuống trần gian để giải quyết tình thế bi kịch, đã khẳng định mạnh mẽ nhu cầu được sống là mình:“không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

Với Trương Ba, nhu cầu sống chính là mình cuối cùng vẫn được đánh giá cao hơn nhu cầu tồn tại. Đặt ra vấn đề “sống như thế nào”, đó chính là biểu hiện của ý thức cao về sự sống và cách sống để có được một cuộc sống hạnh phúc và có ý nghĩa.

+ Cuối cùng, Trương Ba chấp nhận từ bỏ đời sống do cái xác mang lại. Trương Ba cũng kiên quyết từ chối một cuộc sống vênh lệch khác (khi Đế Thích định sửa sai tiếp tục bằng cách cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị) để ra đi. Nhưng tháng ngày trú ngụ trong xác anh hàng thịt, Trương Ba biết rằng chỉ có cách đó mới đem lại sự thanh thản: “từ lúc tôi có đủ can đảm để đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa.”

  1. Tiểu kết:
  2. Đánh giá:
  3. Luận điểm 1: Nội dung:
  4. Luận điểm 2: Nghệ thuật:

– Tạo dựng xung đột kịch phát triển một cách lôgic, lên đến cao trào.

– Khắc họa tâm lí nhân vật rất sinh động.

– Ngôn ngữ đa thanh, đa giọng điệu.

–  Khắc họa nhân vật gắn liền với hành động kịch.

  1. Lí luận văn học:
  2. Lệnh phụ: Ý nghĩa phê phán của đoạn trích

– Phê phán thói chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi phàm phu, thô thiển

– Phê phán những kẻ lấy cớ tâm hồn là cao quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn. Thực chất, đây là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, của sự lười biếng, không tưởng.

– Phê phán tình trạng sống giả, không dám và cũng không được sống là chính bản thân mình. Đó là nguyên nhân đẩy con người đến chỗ tha hóa do danh và lợi.

  1. Kết bài

– Lưu Quang Vũ từng tự bạch rằng, động lực thôi thúc mình viết kịch cũng là những động lực khiến mình làm thơ. Đó là khát vọng muốn được bày tỏ, muốn được thể hiện tâm hồn mình và thế giới xung quanh, muốn được tham dự vào dòng chảy mãnh liệt của đời sống, được trao gửi và dâng hiến

– Hồn Trương Ba, da hàng thịt  là vở kịch kết tinh cả cái tâm và cái tài của người cầm bút. Chính vì thế, từ khi ra đời đến nay, vở kịch vẫn có sức hấp dẫn lớn đối với độc giả và khán giả.

Đề 3. Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2017).

Từ đó, liên hệ với bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Trích vở kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục, 2017) để nhận xét về cách ứng xử của hai nhân vật khi bị rơi vào nghịch cảnh.

* Phân tích đề:

– Vấn đề nghị luận: Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba; liên hệ với bi kịch của Vũ Như Tô để nhận xét về cách ứng xử của hai nhân vật khi bị rơi vào nghịch cảnh.

– Kiểu bài: Liên hệ.

Thao tác lập luận: Phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh…

– Phạm vi dẫn chứng: Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích vở kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng.

* Dàn ý:

  1. Mở bài: Giới thiệu về Lưu Quang Vũ, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt và bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba

– Lưu Quang là một nghệ sĩ đa tài (làm thơ, sáng tác truyện ngắn, vẽ tranh), một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch những năm tám mươi của thế kỉ XX, một nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt được ra mắt vào năm 1984, là vở kịch xuất sắc nhất của Lưu Quang Vũ. Vở kịch này không chỉ được công diễn trong nước mà đã công diễn nhiều lần ở sân khấu nước ngoài.

– Nêu vấn đề nghị luận: Cảnh VII và đoạn kết thể hiện rõ bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba, gợi cho người đọc nhớ tới bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng. Qua đó, người đọc thấy được cách ứng xử của hai nhân vật khi bị rơi vào nghịch cảnh.

  1. Thân bài
  2. Giải thích khái niệm bi kịch (Đề 3)
  3. Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba (Đề 3)
  4. Liên hệ với bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô

*Vũ Như Tô là một nghệ sĩ có tài năng, tâm huyết và hoài bão cao cả

– Tài năng: “Ngàn năm chưa dễ có một”, “Có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân”, “Chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện lên trên mảnh lụa, thần tình biến hóa như cảnh hóa công”.

– Mơ ước: xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài “bền như trăng sao”, để cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện”. Có thể nói đây là ước mơ hoàn toàn chính đáng của người nghệ sĩ say mê sáng tạo, có tinh thần dân tộc.

* Những sai lầm của Vũ Như Tô

– Vũ Như Tô không nhận ra một thực tế tàn nhẫn: Cửu Trùng Đài được xây bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của nhân dân. Để Cửu Trùng Đài kịp hoàn thành đúng thời gian, Vũ Như Tô còn cho chém đầu những người bỏ trốn. Vì khát khao sáng tạo đã đẩy Vũ Như Tô vào tình trạng đối nghịch với lợi ích của nhân dân.

– Khi Trịnh Duy Sản, thợ thuyền nổi loạn, Đan Thiềm đã khuyên Vũ Như Tô trốn đi nhưng Vũ Như Tô không trốn, ông một mực cho rằng mình không có tội.

* Kết cục bi thảm của Vũ Như Tô

Người tri kỉ không còn, giấc mộng Cửu Trùng Đài cũng tan tành, bản thân Vũ Như Tô đã bị bọn phản loạn giết chết. Thậm chí, trước khi bị giết, Vũ Như Tô cũng chưa nhận ra sai lầm của mình.

→ Hồi cuối của vở kịch đã đặt Vũ Như Tô vào việc tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai, là có công hay có tội. Xây Cửu Trùng Đài vừa có công vừa có tội. Vũ Như Tô không trả lời được thỏa đáng câu hỏi trên bởi ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ, chứ không đứng trên lập trường của nhân dân. Ông đã phải trả giá  bằng sinh mệnh của bản thân và cả công trình nghệ thuật.

  1. So sánh

* Điểm tương đồng

Cả hai nhân vật Trương Ba và Vũ Như Tô đều là những nhân vật bi kịch: có tài, có ước mơ đẹp, có nhân cách đáng trọng… nhưng cuối cùng đều phải chết.

* Điểm khác biệt

– Hồn Trương Ba thì không được sống là chính mình, còn Vũ Như Tô thì không được thực hiện hoài bão lớn lao của cuộc đời mình.

– Bi kịch của Trương Ba chủ yếu là do nguyên nhân khách quan, còn bi kịch của Vũ Như Tô chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan.

– Trương Ba đã giải quyết được bi kịch của mình, còn Vũ Như Tô thì không nhận ra sai lầm của bản thân nên chưa giải quyết được bi kịch.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một vở chính kịch, Vũ Như Tô là một vở bi kịch.

  1. Nhận xét về cách ứng xử của hai nhân vật khi bị đẩy vào nghịch cảnh

– Trước nghịch cảnh, Hồn Trương Ba là người có cái nhìn tỉnh táo, còn Vũ Như Tô thì có phần lầm lạc.

– Hồn Trương Ba đã có một sự lựa chọn dũng cảm và đầy nhân văn nên dù nhân vật phải chết nhưng đã giữ trọn vẹn được tâm hồn cao đẹp, để lại tình yêu mến và cảm phục của mọi người. Còn Vũ Như Tô đặt khát vọng nghệ thuật của cá nhân lên trên quyền lợi trực tiếp và thiết thân của nhân dân lao động nên cuối cùng đã phải trả giá bằng cả tính mạng và công trình nghệ thuật.

  1. Kết bài: Đánh giá chung

– Các tác giả Lưu Quang Vũ và Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng thành công hai nhân vật bi kịch và gửi gắm trong đó những thông điệp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

– Hai tác phẩm đều để lại những bài học về lẽ sống và cách ứng xử của con người khi bị lâm vào nghịch cảnh: Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng phải sống là chính mình, giữ  linh hồn trong sạch, không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh để tự đánh mất mình.

Đề 4. Cảm nhận về hai đoạn đối thoại sau trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt:

(1)

Vợ Trương Ba: Ông bây giờ còn biết đến ai nữa! Cu Tị ốm thập tử nhất sinh, từ đêm qua đến giờ mê man, mẹ nó khóc đỏ con mắt. Khổ! Thằng bé ngoan là thế! Cái Gái thương bạn, ngơ ngẩn cả người… Không hiểu thằng bé có qua được không, khéo mà… (một lát) Cái thân tôi thì sao trời lại không bắt đi cho rảnh!

Hồn Trương Ba: Sao bà lại nói thế?

Vợ Trương Ba: (Nghĩ ngợi) Tôi nói thật đấy… ông Trương Ba ạ, tôi đã nghĩ kĩ: Có lẽ tôi phải đi…

Hồn Trương Ba: Đi đâu?

Vợ Trương Ba: Chưa biết! Đi cấy thuê làm mướn ở đâu cũng được… đi biệt… (rưng rưng). Để ông được thảnh thơi… với cô vợ hàng thịt… Còn hơn là thế này… (khóc)

Hồn Trương Ba: Bà! (sau một hồi lâu) Sao lại đến nông nỗi này?

Vợ Trương Ba: Tôi biết, ông vốn là người thương yêu vợ con… Chỉ tại bây giờ… (khóc) Ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa, ông biết không: Thằng cả đã quyết định dứt khoát sẽ bán khu vườn để có tiền mở thêm vốn liếng hàng thịt.

Hồn Trương Ba: Thật sao? Không được!

Vợ Trương Ba: Ông bảo không được nhưng tôi biết sự thể sẽ đến như vậy, ông sẽ đành ưng chịu như vậy… Tôi không còn giúp gì ông được, tốt nhất là… là… không có tôi nữa, cũng không có khu vườn nữa! (bỏ ra)

Hồn Trương Ba: Bà! (Ngồi xuống, tay ôm đầu)…”

(2)

(Vườn cây rung rinh ánh sáng. Ở một góc nhà đó, hiện lên cảnh tượng cu Tị đang ôm chầm lấy mẹ, chị Lụa cuống quýt vuốt ve con… Bà vợ Trương Ba xuất hiện ở phía trước sân khấu)

Vợ Trương Ba: Ông ở đâu? Ông ở đâu?

(Giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập chờn xuất hiện.)

Trương Ba: Tôi đây bà ạ. Tôi vẫn ở liền ngay bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà rẫy cỏ… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…

(Dưới một gốc cây, hiện lên cu Tị và cái Gái)

Cái Gái: (Tay cầm một trái Na) Cây na này ông nội tớ trồng đấy! Quả to mà ngon lắm! Ta ăn chung nhé!

(Bẻ quả na đưa cho cu Tị một nửa. Đôi trẻ ăn ngon lành. Cái Gái lấy những hạt na vùi xuống đất.)

Cu Tị: Cậu làm gì thế?

Cái Gái: Cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi Mãi…”

(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, SGK Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục2017, trang 153)

Từ đó rút ra ý nghĩa nhân sinh mà tác giả gửi gắm qua hai đoạn đối thoại.

* Phân tích đề:

– Vấn đề nghị luận:

+ Nội dung và nghệ thuật của đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba với vợ và đoạn kết.

+ Tư tưởng nhân sinh của Lưu Quang Vũ.

– Kiểu bài: Nghị luận về hai đoạn trích. Từ đó, rút ra nhận xét, đánh giá, khái quát.

Thao tác lập luận: Phân tích, chứng minh, bình luận…

– Phạm vi dẫn chứng: Đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba với vợ và đoạn kết trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

* Dàn ý:

  1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Lưu Quang Vũ và tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

– Giới thiệu về hai đoạn đối thoại.

  1. Thân bài
  2. a. Phân tích đoạn đối thoại thứ nhất

* Nội dung

– Sau khi đối thoại với xác hàng thịt, Hồn Trương Ba vô cùng đau khổ, tuyệt vọng vì không được sống là chính mình, bị những nhu cầu của thân xác chi phối, sai khiến và ngày càng tha hóa, đánh mất đi bản chất tốt đẹp của mình. Ông tìm đến những người thân để được an ủi, xoa dịu những nỗi đau trong tâm hồn. Trớ trêu thay…

– Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ muốn bỏ đi: “đi đâu cũng được… còn hơn là thế này…”. Bà đau khổ không phải vì những rắc rối do ông Trương Ba sống trong thân xác anh hàng thịt gây ra. Hơn ai hết, bà hiểu đó là cái giá phải trả để ông được sống. Bà đau khổ vì ông Trương Ba đã thay đổi: “Ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”. Đó không phải là sự thay đổi về hình dáng bên ngoài mà là sự thay đổi của tâm hồn, nhân cách bên trong. Ông Trương Ba ngày xưa là người làm vườn, có những thú vui tao nhã, thích đọc sách, đánh cờ, ươm những mầm xanh cho cuộc sống, quan tâm và yêu thương những người thân trong gia đình. Ông Trương Ba bây giờ thô lỗ và phũ phàng lắm và hầu như không biết gì về mọi việc, mọi người xung quanh, suốt ngày chìm đắm trong những thú vui bản năng, tầm thường.

– Trước những đau khổ của vợ, Hồn Trương Ba đành bất lực vì bà đã nói ra cái điều mà chính ông cũng cảm nhận được. Ông không thể nói lên bất cứ lời an ủi nào, chỉ hỏi những câu vu vơ, vô hồn kèm theo những động tác dằn vặt, những lời than.

– Hồn Trương Ba nhận thức sâu sắc về sự tồn tại vô lí và vô nghĩa của mình. Cuộc sống còn có ý nghĩa gì khi bản thân bị đau khổ dày vò và không những không đem lại niềm vui cho ai mà còn gây đau khổ cho những người mà mình yêu thương. Sau cuộc đối thoại với cái Gái và chị con dâu, Hồn Trương Ba càng  thấm thía hơn cuộc sống vô nghĩa của mình, đó là tác động tâm lí cuối cùng như giọt nước tràn li khiến cho ông đi đến quyết định dứt khoát: châm hương gọi Đế Thích, trả lại thân xác anh hàng thịt, xin cho cu Tị được sống còn mình thì mãi mãi ra đi, không nhập vào thân xác của bất kỳ ai nữa.

* Nghệ thuật: Ngôn ngữ đối thoại sắc sảo, dồn nén, thể hiện được những day dứt, giằng xé trong nội tâm nhân vật…

  1. b. Phân tích đoạn đối thoại thứ hai

* Nội dung

– Đoạn đối thoại diễn ra trong khung cảnh: “vườn cây rung rinh ánh sáng”. Đây là không gian quen thuộc gắn với con người ông Trương Ba, nơi lưu giữ những hồi ức đẹp đẽ về một ông Trương Ba hiền lành có tâm hồn sáng, yêu thiên nhiên, gắn bó với công việc và người thân trong gia đình. Trong đoạn có hai chi tiết quan trọng: Lời thoại của ông Trương Ba với vợ và hành động của cái Gái ăn quả na rồi vùi hạt xuống đất rồi nói với cu Tị: cho nó mọc thành cây mới.

+ Chi tiết 1: Hồn Trương Ba xuất hiện qua lời dẫn chuyện: “Giữa màu xanh cây vườn (…) chập chờn xuất hiện”. Đó chỉ là cái bóng, rồi Trương Ba lên tiếng với vợ: “Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, con dao bà giẫy cỏ… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu”. Đây là lời văn, lời nói thấm đẫm cảm xúc thương yêu, quý mến khi được gần gũi bên những người thân, là hạnh phúc của Trương Ba khi được trở lại là chính mình. Qua lời thoại của Hồn Trương Ba, người đọc cảm nhận được mặc dù giờ đây hồn ông không có thân xác trú ngụ, chỉ là cái bóng chập chờn mờ ảo, vô hình, nhưng đó lại là lúc sự hiện diện của Hồn Trương Ba nhiều nhất, thường trực nhất. Qua lời thoại này, nhà viết kịch cũng gửi gắm những triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc sống và cả cái chết: Cái chết không đáng sợ khi con người ý thức được ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống, khi con người đã sống hết mình cho những điều mà mình yêu thích và theo đuổi, đã đem đến niềm vui, niềm hạnh phúc cho mọi người, đặc biệt là khi con người vẫn giữ được bản chất tốt đẹp của mình.

→ Trương Ba đã chọn sự ra đi nhưng linh hồn của ông không hoàn toàn tan biến vào hư vô. Linh hồn ấy hòa cùng thiên nhiên cây lá trong vườn, vẫn luôn gắn bó với những người thân, vẫn tồn tại trong những sự vật bình dị nhất, vẫn hằng sống hằng vui buồn cùng họ, vẫn hiện diện trong những điều tốt lành của cuộc sống…

+ Chi tiết 2: Hành động của cái Gái và lời thoại với cu Tị: vùi hạt na xuống đất cho nó mọc thành những cây mới. Hình ảnh này mang ý nghĩa biểu tượng: Cái Gái tiếp nối những điều tốt đẹp mà ông Trương Ba vẫn làm khi còn sống là gieo những mầm xanh cho sự sống. Đó còn là biểu tượng cho sự hồi sinh của linh hồn ông Trương Ba trong những điều tốt lành của cuộc đời. Dù ông nội của cái Gái đã mất đi về thể xác nhưng trong lòng nó ông nội đã hoàn nguyên kì diệu về tâm hồn. Ông Trương Ba đang sống một sự sống khác, sự sống trong tâm hồn của những người thân yêu.

* Nghệ thuật: Đoạn kết với những chi tiết nghệ thuật giản dị, gần gũi mà có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Ngôn ngữ vừa dung dị vừa giàu chất thơ, một chất thơ vút lên từ cuộc sống đời thường còn nhiều trái ngang và bi kịch.

  1. c. Ý nghĩa nhân sinh sâu sắc

– Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi được là chính mình. Khi phải sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, sống phụ thuộc vào người khác để đánh mất mình thì cuộc sống ấy là bi kịch với chính con người đó và với những người xung quanh.

– Ý nghĩa sự sống nhiều khi không phải ở sự tồn tại sinh học mà chính là sự hiện diện của ta trong suy nghĩ trong nỗi nhớ của những con người còn sống. Vẻ đẹp tâm hồn có đời sống dài lâu và bất tử so với thể xác. Tâm hồn cao khiết của ông Trương Ba vẫn có mặt trong nỗi hoài niệm, mỗi niềm vui nỗi buồn của cuộc sống.

– Đoạn trích đem lại bài học nhân sinh thấm đẫm giá trị nhân văn: Được sống làm người là vô cùng quý giá nhưng được sống đúng mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quí giá hơn; sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên, hài hoà giữa thể xác và tâm hồn. Hạnh phúc của con người là chiến thắng được bản thân, chiến thắng sự dung tục, hoàn thiện được nhân cách và vươn tới những giá trị về tinh thần cao quý.

  1. Kết bài

          Hai trích đoạn trên tuy không dài nhưng là sự dồn nén ý tưởng của tác phẩm. Thắt nút dữ dội và cởi nút nhân văn, Lưu Quang vũ đã đưa đến cho người đọc nhiều suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống.

Đề 5. Trong cảnh VII vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ, khi đối thoại với xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba nói: “Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: Nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”, còn khi đối thoại với Đế Thích, Hồn Trương Ba lại nhận ra rằng: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

Phân tích tâm trạng của nhân vật Hồn Trương Ba qua hai lời thoại trên, từ đó làm nổi bật những thay đổi trong nhận thức của nhân vật.

* Phân tích đề:

– Vấn đề nghị luận: Tâm trạng của nhân vật Hồn Trương Ba, những thay đổi trong nhận thức của nhân vật.

– Kiểu bài: Nghị luận về hai chi tiết. Từ đó, rút ra nhận xét, đánh giá, khái quát.

Thao tác lập luận: Phân tích, chứng minh, bình luận…

– Phạm vi dẫn chứng: Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

* Dàn ý:

  1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Lưu Quang Vũ và tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

– Giới thiệu về hai chi tiết.

  1. Thân bài: Phân tích tâm trạng của nhân vật qua hai lời thoại
  2. Lời thoại 1: Khi đối thoại với xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba nói: “Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: Nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”

– Hoàn cảnh của Trương Ba: Vốn là người làm vườn hiền lành, ngay thẳng, trong sạch nhưng do sự tắc trách của quan nhà trời, Trương Ba phải sống nhờ trong thân xác của anh hàng thịt. Trương Ba dần bị nhiễm những thói hư tật xấu của xác hàng thịt, nhưng bản thân ông vẫn cố bảo vệ phần hồn của mình và cho rằng “Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”.

– Tâm trạng của Trương Ba : quyết liệt từ chối sự ảnh hưởng của xác thịt tới linh hồn, với Trương Ba, xác thịt “không có tiếng nói mà chỉ là xác thịt âm u đui mù”; ông cố gắng bảo vệ phần hồn của mình với câu khẳng định: “Ta vẫn có một đời sống riêng: Nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn”. Đó là một sự ngộ nhận về chính mình khi Trương Ba vẫn cho rằng hồn và xác hoàn toàn tách biệt nhau; dù sống trú nhờ trong thân xác hàng thịt nhưng ông vẫn có một tâm hồn nguyên vẹn, trong sạch.

– Ý nghĩa:

+ Lời thoại thể hiện tâm trạng đau khổ khi cố gắng bảo vệ tâm hồn của Trương Ba.

+ Từ đó, tác giả bày tỏ quan điểm: Linh hồn và thể xác là hai mặt hài hòa bên trong mỗi con người; Thể xác và linh hồn con người là hai thực thể có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời. Cuộc tranh đấu giữa hồn và xác là cuộc đấu tranh giữa cái cao cả và dục vọng, thấp hèn; giữa phần con và phần người.

+ Khi con người sống quá lâu trong môi trường dung tục ắt sẽ bị cái dung tục chi phối, không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục, tội lỗi. Một linh hồn dù tốt đẹp khi trú ngụ trong thân xác khác cũng sẽ bị biến dạng, bởi nó bị chi phối theo thói quen và bản năng của thân xác đó, hơn nữa nó luôn bị dằn vặt trong mặc cảm giả dối và ích kỉ. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng thì đừng đổ tội cho thân xác.

+ Không thể tự an ủi mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Do đó, phải bảo vệ, hoàn thiện nhân cách con người. Đó là một vấn đề lớn đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội.

  1. Lời thoại thứ 2: Khi đối thoại với Đế Thích, Hồn Trương Ba lại nhận ra rằng: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn”.

– Hoàn cảnh: Sau cuộc đối thoại với xác hàng thịt, đặc biệt là vơi những người thân, Trương Ba đã đau đớn thừa nhận “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không  phải của ta ạ”. Sau những đau khổ, dằn vặt, Trương Ba đã gọi Đế Thích để bày tỏ mong muốn “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn”. 

– Tâm trạng Trương Ba:

+ Những lời thoại giữa Đế Thích và hồn Trương Ba chứng tỏ Hồn Trương Ba đã ý thức được về tình cảnh trớ trêu, đầy tính bi hài của mình: Chỉ vì phải sống trong xác anh hàng thịt mà những người thân của ông, từ đứa cháu nội rất yêu quý, đến vợ ông… tất cả mọi người đang xa lánh ông. Những lời nói từ đáy lòng, từ trái tim của những người thân yêu đã khiến Trương Ba vô cùng đau đớn, day dứt, thất vọng.

+ Đã đến lúc Hồn Trương Ba đau đớn nhận ra rằng cần phải sống là mình toàn vẹn. Quyết định xin được trở lại chính mình của Trương Ba là một quyết định sáng suốt, hợp lý, phù hợp với diễn biến tâm lý nhân vật, phù hợp với những gì đã xảy ra đối với Hồn Trương Ba khi phải sống trong xác anh hàng thịt.

– Ý nghĩa:

+ Được sống làm người thật quý giá, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và đeo đuổi còn đáng quý hơn.

+ Sự sống chỉ có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hoà giữa tâm hồn và thể xác.

+ Con người cần phải biết đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

  1. Nhận xét về sự chuyển biến trong nhận thức của Trương Ba

– Qua hai lời thoại của hồn Trương Ba chúng ta thấy được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của nhân vật:

+ Từ chỗ ngộ nhận, biện minh cho lí lẽ của mình đến chỗ ý thức sâu sắc về thực trạng sống nhờ vả, sống chắp vá của bản thân.

+ Hồn Trương Ba từ chỗ bảo vệ lí lẽ của mình: ta vẫn có một đời sống riêng đến chỗ hiểu rằng con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hoà. Không thể có một tâm hồn thanh cao trú ngụ trong một thân xác phàm tục, tội lỗi.
+ Ban đầu, Trương Ba đổ lỗi cho thân xác khi bị chi phối bởi những nhu cầu của bản năng. Đó chỉ là sự tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thế nhưng, khi ý thức sâu sắc về thực trạng sống nhờ sống vả, sống chắp vá của mình, Hồn Trương Ba đã lựa chọn cái chết để kết thúc bi kịch không được là chính mình. Trương Ba sẵn sàng chết vì nếu sống mà không là mình, mà mất dần nhân cách, mà nhìn thấy những người khác đau khổ thì thà chết còn hơn.

-Ý nghĩa của sự thay đổi:

+ Thể hiện quá trình  Hồn Trương Ba tự đấu tranh với cái dung tục để được sống là chính mình. Con người phải luôn đấu tranh với nghịch cảnh, với cái dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

+ Được sống là đáng quý nhưng được sống là chính mình, hài hòa giữa tâm hồn và thể xác càng đáng quý hơn.

+ Không chỉ có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ: Con người đang có nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển. Lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn; Vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi.

– Đặc sắc nghệ thuật: xây dựng mâu thuẫn kịch, ngôn ngữ kịch sinh động mang đậm chất triết lí, kết hợp sự phê phán mạnh mẽ và chất trữ tình đắm thắm…

– Cắt nghĩa, lí giải: sự thay đổi tâm trạng nhân vật Hồn Trương Ba qua hai lời thoại xuất phát từ sự thay đổi hoàn cảnh sống cũng như mạch vận động tâm trạng nhân vật; Những thay đổi của Trương Ba thể hiện phong cách của Lưu Quang Vũ– một con người luôn trăn trở về cuộc sống, con người, các vấn đề xã hội để hướng đến xây dựng một xã hội tốt đẹp; đócũng là niềm tin của tác giả vào sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp và những điểu tốt lành trong cuộc đời.

  1. Kết bài

– Nhiều thập kỉ đã trôi qua, bạn đọc ngày nay được sống trong sự đổi mới toàn diện, trong khí thế vươn lên của đất nước và dân tộc, sẽ còn tìm thấy nhiều tầng ý nghĩa thú vị hàm ẩn trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

– Thông qua hình tượng Hồn Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã đặt ra những vấn đề tư tưởng thấm đẫm chất nhân văn, không chỉ có ý nghĩa nhất thời mà có ý nghĩa muôn đời.

Đề 6 (Đề nâng cao)

Trong văn chương, có những cái kết buồn nhưng lại mở ra niềm hi vọng.

Anh/ chị hãy phân tích cái kết của tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) để làm sáng tỏ ý kiến trên.

* Phân tích đề:

– Vấn đề nghị luận: Cái kết của tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ).

– Kiểu bài: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học.

Thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…

– Phạm vi dẫn chứng: Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

* Dàn ý:

  1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Lưu Quang Vũ và tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

– Trích dẫn ý kiến.

  1. Thân bài
  2. Giải thích ý kiến

– Cái kết buồn: Kết thúc không có hậu (nhân vật chính diện có thể thất bại, đau khổ hoặc phải chết).

– Cái kết mở ra niềm hi vọng: Cái kết gieo vào lòng người niềm tin vào những điều tốt đẹp.

→ Ý kiến đề cập đến một trong những đặc trưng của tác phẩm văn học: Có những tác phẩm kết thúc không có hậu nhưng vẫn mở ra niềm tin, niềm hi vọng và những điều tốt đẹp trong lòng độc giả.

  1. Phân tích, chứng minh ý kiến

* Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch có kết thúc buồn

Hoàn cảnh của Trương Ba: Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những kịch bản thành công nhất của Lưu Quang Vũ. Mượn cốt truyện dân gian quen thuộc, tác giả đã khám phá, thể hiện được nhiều vấn đề cấp thiết của con người trong cuộc sống hiện đại. Trương Ba là một người làm vườn nhân hậu, đánh cờ giỏi và hết mực yêu thương gia đình. Nhưng, vì sự tắc trách của Nam Tào và Bắc Đẩu mà ông đã phải chết oan. Vì muốn sửa sai, Đế Thích cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt. Nhưng nếu như nhân vật Trương Ba trong truyện dân gian được sống yên ổn trong xác hàng thịt thì nhân vật Trương Ba trong vở kịch của Lưu Quang Vũ lại phải gánh chịu biết bao đắng cay, tủi cực, phiền toái trong cảnh sống hồn này, xác nọ. Đau đớn nhất là tâm hồn trong sạch, nhân hậu, bao dung của ông lại phải trú ngụ trong hình hài thô kệch, vụng về của anh hàng thịt. Linh hồn ấy ghê sợ mà vẫn phải bị những ham muốn dung tục và thói thô bạo của thân xác điều khiển. Trong khi thân xác kia lại còn chế nhạo lại linh hồn. Không chỉ thế, sự sống chắp vá còn khiến những người thân của Trương Ba ngày càng không thể chấp nhận được, gia đình ông như sắp tan hoang ra cả

– Cách giải quyết của Trương Ba: Bị giằng xé giữa linh hồn và xác, thấm thía nỗi thống khổ của cuộc sống “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, Hồn Trương Ba đã gọi tiên Đế Thích xuống trần gian. Ông bày tỏ khát vọng được sống là chính mình, không muốn tiếp tục cảnh sống vay mượn, chắp vá này nữa. Đế Thích khuyên Hồn Trương Ba hãy chấp nhận để được sống vì thế giới vốn không toàn vẹn. Thế nhưng, Hồn Trương Ba kiên quyết chối từ, lựa chọn dứt khoát con đường riêng của mình: trả lại thân xác anh hàng thịt, xin cho cu Tị được sống lại, còn mình thì chết hẳn. Ông không chấp nhận nhập vào thân xác ai nữa vì “sống thế này còn khổ hơn chết”.

– Đoạn kết của vở kịch chứa đựng những bi kịch của hiện thực khắc nghiệt. Con người tử tế, nhân hậu, tự trọng, đáng được sống như Trương Ba lại phải chết oan. Những người thân của Trương Ba thì không nguôi nhớ thương ông. Đây là một kết thúc không có hậu, gợi nhiều tiếc nuối cho người đọc.

* Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch có kết thúc mở ra niềm hi vọng

– Đoạn kết đã mang đến câu trả lời cho con người khi phải đối diện với những lựa chọn: ở đây là lựa chọn giữa sự sống và cái chết, giữa lòng ham sống và ý thức về giá trị của cuộc sống. Con người sẽ làm gì trong sự mâu thuẫn, trong tình huống đầy nghịch lí? Chấp nhận sự vô nghĩa để tồn tại bằng bất cứ giá nào hay từ chối sự thỏa hiệp với cái xấu, cái ác để giữ trọn giá trị tinh thần mà mình đang theo đuổi, dù có phải từ bỏ sinh mệnh của mình? Điều này luôn là một sự lựa chọn đầy khó khăn, khắc nghiệt, dẫn đến những xung đột dữ dội trong con người, trong lịch sử sinh tồn của loài người.  Hiển nhiên, không phải lúc nào nhân tính cũng chiến thắng trong cả thực tại cũng như trong khát vọng của con người. Tuy nhiên, trong vở kịch này, bằng cảm quan tươi sáng, Lưu Quang Vũ đã khẳng định sự thắng thế của nhân tính: Trương Ba từ chối sự tồn tại trong thân xác hàng thịt, thân xác cu Tị, chấp nhận cái chết của phần xác để hướng tới cái thiện, cái đẹp. Bằng sự lựa chọn ấy, Trương Ba đã bảo toàn được linh hồn trong sạch, thanh cao của mình.

– Tuy thân xác không còn nhưng linh hồn Trương Ba vẫn sống trong những sự vật quen thuộc: ánh lửa, bậc cửa, con dao…; vẫn luôn ở bên những người thân: trong vườn cây, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu”.

– Không chỉ thế, bằng sự lựa chọn của mình, Hồn Trương Ba đã chấp nhận hi sinh để đem lại sự bình yên, thanh thản cho những người thân yêu và gìn giữ mãi những gì đẹp đẽ, giữ cho thế hệ sau niềm tin vào con người, cuộc sống:

+ Sau cái chết của ông, người con trai có thể sẽ tỉnh ngộ.

+ Hình ảnh cái Gái và cu Tị chơi dưới bóng cây, cùng chia nhau một trái na chín thật bình yên, ấm áp. Chi tiết cái Gái vùi hạt na xuống đất “cho nó mọc thành cây mới“ đã thắp lên niềm hi vọng, niềm tin vào những điều tốt lành, đẹp đẽ. Màn kết với chất thơ sâu lắng đã đem lại âm hưởng lạc quan cho vở kịch. Đó là khúc vĩ thanh, sẽ còn đọng lại mãi trong lòng người đọc.

  1. Bình luận ý kiến

– Ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn.

– Ý kiến đem lại bài học đối với nhà văn và người đọc:

+ Đối với nhà văn: Kết thúc của tác phẩm giống như một khúc vĩ thanh trong bản nhạc. Do vậy, việc trăn trở, sự lựa chọn một sự kết thúc để lại dư âm trong lòng người là điều cần thiết. Và dù chọn kết thúc nào thì nhà văn chân chính vẫn luôn phải ý thức được sứ mệnh của mình – người dẫn đường đến xứ sở của cái Đẹp (Paustovxki).

+ Đối với người đọc: Khi đánh giá giá trị của một tác phẩm, cần phải có một cái nhìn thấu đáo từ cách mở đầu đến kết thúc của tác phẩm. Tác phẩm văn học là sự phản ánh bức tranh cuộc đời, cho nên không phải lúc nào cũng có một kết thúc đúng với mong muốn của độc giả – kết thúc có hậu. Nhưng quan trọng nhất là tác phẩm đã mở ra được những điều đẹp đẽ gì để cho con người hướng tới.

  1. Kết bài

– Như vậy, vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có một kết thúc buồn nhưng dư âm đọng lại trong lòng người đọc không chỉ là xót xa, tiếc nuối mà còn là hi vọng, tin tưởng…

– Cách kết thúc của Lưu Quang Vũ gợi cho ta nhớ đến ý kiến của Nguyễn Khải về giá trị của một tác phẩm văn chương đích thực: “Văn chương có quyền, nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng cái tốt đẹp, cái thủy chung”.

Đề 7.  Kịch Lưu Quang Vũ giàu giá trị nhân văn.

Anh/ chị hãy phân tích cảnh VII và đoạn kết của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt để làm sáng tỏ nhận định trên.

Đề 8. Phân tích tấn bi kịch của Hồn Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Từ đó, liên hệ với bi kịch của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao để bình luận quan niệm về con người mà hai nhà văn gửi gắm qua tác phẩm.

Đề 9. Chất thơ trong đoạn trích của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

Đề 10. Từ đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, anh/ chị nghĩ gì về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và mọi người?

ĐỀ 11

          Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có đoạn:
Hồn Trương Ba:
Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!

Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!

Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!

Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
       Cảm nhận của anh/ chị về khát vọng của Hồn Trương Ba trong đoạn đối thoại trên. Từ đó, rút ra quan niệm sống của tác giả.

HƯỚNG DẪN CHẤM

Ý NỘI DUNG ĐIỂM
1 Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận

Có đầy đủ mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài giới thiệu vấn đề nghị luận; Thân bài triển khai được các luận điểm; Kết bài khái quát được nội dung nghị luận.

0,5
2  Xác định đúng vấn đề nghị luận 1,0
3  Triển khai các luận điểm nghị luận: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần đảm bảo các yêu cầu sau:

 
3.1. Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn đối thoại 1,0
– Lưu Quang Vũ là một trong những cây bút tài hoa để lại dấu ấn trong nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, đặc biệt là kịch. Ông là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.

– Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt được Lưu Quang Vũ viết vào năm 1981, công diễn lần đầu vào năm 1984. Đây là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, đánh dấu sự vượt trội trong sáng tác của Lưu Quang Vũ.

– Giới thiệu đoạn trích: Thuộc cảnh VII, cũng là đoạn kết, lúc mâu thuẫn vở kịch lên đến đỉnh điểm. Đoạn trích trên là cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích, qua đó Hồn Trương Ba bày tỏ quan điểm sống của mình.

 
3.2. Thân bài  
a. Cảm nhận về khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn đối thoại

* Hoàn cảnh dẫn đến đoạn đối thoại

Trương Ba là một người hiền lành, lương thiện, tốt bụng nhưng bị chết oan vì sự tắc trách của quan nhà trời. Đế Thích, một vị tiên cờ vì yêu quý mến mộ tài nghệ của Trương Ba nên đã giúp ông sống lại trong thể xác của anh hàng thịt. Mọi việc rắc rối bắt đầu xảy ra kể từ khi hồn Trương Ba cư ngụ trong thể xác phàm tục ấy. Ý thức được tình trạng “vênh lệch” của mình, Trương Ba quyết định gọi Đế Thích để giải quyết bi kịch mà mình đang gặp phải.

* Khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba:

– Khát vọng được thoát ra khỏi nghịch cảnh phải sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt:

+ Ý thức được tình cảnh trớ trêu là phải sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo.

+ Thấm thía nỗi đau khổ và không chấp nhận tình trạng vênh lệch giữa hồn và xác. Các từ ngữ không thể tiếp tục, không thể được, không thể trong lời thoại của Trương Ba cho thấy thái độ kiên quyết, dứt khoát của nhân vật.

– Khát vọng được sống là chính mình:

+ Muốn là mình một cách toàn vẹn; thể xác và linh hồn hòa hợp; bên trong và bên ngoài, suy nghĩ và hành động thống nhất.

+ Mong muốn một cuộc sống có ý nghĩa, không chấp nhận sự dung tục, tầm thường (Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!).

→ Khát vọng của Hồn Trương Ba đã cho ta thấy vẻ đẹp tâm hồn của con người trong cuộc đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo; bảo vệ quyền được sống là chính mình; hướng đến sự hoàn thiện nhân cách.

* Nghệ thuật:

– Kết hợp giữa việc miêu tả diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật.

– Ngôn ngữ kịch: sinh động, gắn liền với tình cảnh, tâm trạng cụ thể; giàu tính triết lý.

– Giọng điệu: biến hóa, lôi cuốn, có những lời thoại vừa hướng ngoại lại mang tính chất hướng nội (độc thoại nội tâm).

b. Quan niệm sống của tác giả thể hiện qua đoạn đối thoại

– Con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục, thô lỗ. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, thì không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn.

– Sống thực cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa.

– Con người phải luôn biết đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục, để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

– Lòng tốt hời hợt thì không thể giúp ích cho ai. Trái lại, nó đẩy con người vào nghịch cảnh bi đát hơn.

4,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

3.3. Kết bài

Đoạn đối thoại trên là một đoạn đặc sắc, góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của vở kịch. Đó cũng là minh chứng cho tính triết lí trong kịch Lưu Quang Vũ.

1,0
4  Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ. 1,0
5 Chính tả: đảm bảo những quy tắc về chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,5

 

Đề 12 (5,0 điểm).

Phân tích vẻ đẹp nhân cách của nhân vật Trương Ba thể hiện qua đoạn đối thoại với nhân vật Đế Thích và đoạn kết của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt ­– Lưu Quang Vũ (Sách Ngữ văn 12tập hai, trang 142, NXB GD 2009). Từ đó anh/chị hãy nhận xét về chiều sâu triết lí được tác giả gửi gắm qua đoạn trích.

 

  1. Giới thiệu khái quát về tác giả Lưu Quang Vũ và vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt.
  2. Phân tích cuộc đối thoại giữa Trương Ba với Đế Thích và đoạn kết của vở kịch
  3. Nội dung:

* Hoàn cảnh dẫn đến màn đối thoại và đoạn kết:

– Trương Ba là một người hiền lành, lương thiện, tốt bụng nhưng bị chết oan vì sự tắc trách của quan nhà trời. Đế Thích, một vị tiên cờ vì yêu quý mến mộ tài nghệ của Trương Ba nên đã giúp ông sống lại trong thể xác của anh hành thịt. Mọi việc rắc rối bắt đầu xảy ra kể từ khi hồn Trương Ba cư ngụ trong thể xác phàm tục ấy. Ý thức được tình trạng “vênh lệch” của mình, Trương Ba quyết định gọi Đế Thích để giải quyết bi kịch mà mình đang gặp phải.

Phân tích màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với Đế Thích và màn kết:

– Màn đối thoại với Đế Thích:

+ Trương Ba hiểu thấu ý nghĩa của sự sống đích thực, luôn khát khao sống đúng với bản thân, không muốn sống nhờ, sống gửi:

. Không chấp nhận cảnh sống “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

. Muốn được sống theo đúng bản chất của mình “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

. Thẳng thắn chỉ ra những sai lầm của Đế Thích “Sống nhờ vào đồ đạc….cần biết”.

+ Nhân hậu, vị tha, giàu lòng tự trọng:

. Cái chết của cu Tị mở ra một lối thoát cho bao nhiêu sự bế tắc nhưng Trương Ba nhận ra sẽ có “bao sự rắc rối” đang chờ.

. Hình dung ra tương lai “bơ vơ lạc lõng, hoặc sẽ trở nên thảm hại đáng ghét” nếu chấp nhận lời đề nghị của Đế Thích.

. Cuối cùng, ông đã từ chối quyền được tái sinh lần nữa để nhường quyền sống cho cu Tị.

à Theo Trương Ba, sự sống chỉ có ý nghĩa khi chấm dứt tình trạng giả tạo, con người phải sống đúng với mình, có được sự hoà hợp toàn vẹn giữa linh hồn và thể xác.

– Màn kết của vở kịch:

+Khung cảnh hạnh phúc sum vầy ấm áp: “cu Tị đang ôm chầm lấy mẹ, chị Lụa cuống quýt vuốt ve con”, hai đứa trẻ ăn chung trái na.

+ Hồn Trương Ba trở về trong những không gian quen thuộc (khu vườn, cầu ao, cơi trầu,..). Khi Trương Ba không còn chịu cảnh “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” nữa lại là lúc ông được sống trong sự gần gũi, tình thương yêu của người thân.

+ Cái Gái gieo hạt na xuống và nói: “cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi..”

à Những hành động và lời nói tốt đẹp của Trương Ba sẽ có tác dụng giáo dục lâu dài cho những thế hệ  mai sau và những điều tốt lành sẽ được tiếp nối, phát huy như một giá trị vĩnh hằng của đời sống.

  1. Nghệ thuật:

– Màn kịch thể hiện sự xung đột quyết liệt, căng thẳng giữa Trương Ba và Đế Thích do sự bất đồng về quan điểm sống, nhân vật cần đưa ra sưu lựa chọn.

– Thể hiện đầy đủ những đặc trưng thể loại kịch: mâu thuẫn phát triển từ “đỉnh điểm” đi đến “mở nút”; ngôn ngữ sinh động; giọng điệu biến hoá; lời thoại vừa hướng nội vừa hướng ngoại,…

  1. Đánh giá:

– Qua hai đoạn đối thoại của nhân vật trong đoạn trích, nhà văn đã chuyển tải nhiều thông điệp nhân sinh quan trọng:

+ Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người không phải sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá.

+ Đề cao ca ngợi sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp, tạo niền lạc quan tin tưởng vào những điều tốt đẹp vẫn hiện hữu trong cuộc đời.

– Dựa vào cốt truyện dân gian, tác giả đã sáng tạo nên một nhân vật với hành động phù hợp với hoàn cảnh, tích cách, thể hiện sự phát triển của tình huống kịch; ngôn ngữ nhân vật sinh động, giọng điệu biến hoá,…; góp phần tạo nên không khí ấm áp, toát lên niềm vui của sự đoàn tụ, tiếp nối, đem lại  âm hưởng thanh thoát, lạc quan cho vở kịch.

  1. Chiều sâu triết lí được gửi gắm qua đoạn trích:

– Con người muốn có cuộc sống hạnh phúc cần phải có sự hài hoà giữa thể xác và linh hồn, giữa vật chất và tinh thần, được sống là chính mình.

– Cuộc sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người tìm thấy tình yêu thương, sự sẻ chia của những người xung quanh, đặc biệt là những người thân yêu trong gia đình.

– Được sống là điều may mắn nhưng sống thế nào cho thật ý nghĩa mới là điều quan trọng,…

Đề 13. (5,0 đim)

Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, khi đối thoại với nhân vật Đế Thích, nhân vật Trương Ba đã nói:“Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

(Lưu Quang Vũ – Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.148 và tr.152)

Phân tích bi kịch khi sống trong cảnh hồn này, xác nọ và ước muốn của nhân vật Trương Ba qua lời đối thoại trên, từ đó làm nổi bật ý nghĩa phê phán mà tác giả gửi gắm.

.1.Mở bài: 0.25

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích: Lưu Quang Vũ là nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm tiêu biểu của Lưu Ọuang Vũ, xuất phát từ cốt truyện dân gian, tác giả đã viết thành vở kịch nói hiện đại, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.

– Nêu vấn đề cần nghị luận: Tác phẩm có rất nhiều lời thoại mang tính triết lý, trong đó lời nói của Trương Ba với Đế Thích: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” đã gợi lên bi kịch của nhân vật Trương Ba khi sống trong cảnh hồn này, xác nọ và ước muốn của anh. Từ đó, nhà biên kịch gửi gắm tiếng nói phê phán rất sâu sắc.

3.2.Thân bài: 3.50

a.Khái quát về vở kịch

– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những truyện hay trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện này để viết thành vở kịch nói cùng tên vào năm 1981 và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1984.

– Vở kịch đặt ra vấn đề, đó là bi kịch sống nhờ của Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt.    

  1. Phân tích bi kịch khi sống trong cảnh hồn này, xác nọ và ước muốn của nhân vật Trương Ba khi đối thoại với Đế Thích:

– Lời thoại trên là lời của Hồn Trương Ba nói với Đế Thích, có ý nghĩa triết lý về sự thống nhất, hài hòa giữa hồn và xác trong một con người.

b.1. Bi kịch khi sống trong cảnh hồn này, xác nọ

– Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba qua đối thoại với xác hàng thịt:

+Tình huống kịch bắt đầu từ khi Hồn Trương Ba nhập vào thân xác anh hàng thịt, anh ta phải gánh chịu nhiều đau khổ:

+Xác hàng thịt đã chỉ rõ sự tha hoá không tránh khỏi của hồn Trương Ba khi Trương Ba phải nhờ vào nó để tồn tại: Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân..ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi.

+Trương Ba hầu như không còn được sống theo cách riêng của mình, linh hồn hoàn toàn lệ thuộc vào những yếu tố vật chất của thân xác, tồn tại qua thân xác, cái thân xác không phải của mình. Đó là nguyên nhân khiến linh hồn của Trương Ba rơi vào tình trạng bất lực trước sự sai khiến ghê gớm của thân xác âm u đui mù. Nhân vật đau khổ khi khổng thể làm chủ được bản thân mình. Đây chính là bi kịch tha hoá của nhân vật.

– Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba qua đối thoại với người thân trong gia đình:

+ Những người trong gia đình không có ai hiểu ông, họ nghi ngờ, xa lánh ông (vợ ông định bỏ đi thật xa, con trai không nghe lời khuyên của cha, cháu nội gọi ông là lão đồ tể…). Họ không thông cảm, chia sẽ và thấu hiểu cho những khó khăn mà ông đang phải cố gắng để vượt qua từ khi nhập vào thân xác của anh hàng thịt.

+ Hồn Trương Ba cũng thấy rằng, mình là nguyên nhân gây nên những rắc rối, xáo trộn, bất an trong gia đình trong khi ông chỉ muốn đưa đến cho mọi người những điều tốt đẹp. Đây chính là bi kịch bị từ chối của nhân vật.

b.2. Ước muốn của nhân vật Trương Ba: Tôi muốn là tôi toàn vẹn

– Nhân vật còn mang nỗi đau của một con người tự ý thức. Là người giàu lòng vị tha nên Hồn Trương Ba day dứt trước hiện tại của bản thân. Hồn Trương Ba nhận ra mình đang bị tha hoá, nhiểu khi phải thoả hiệp với những đòi hỏi xác-thịt, không giữ được bản tính cao khiết như trước đây. Ông luôn bị dằn vặt bởi chính nghịch cảnh phải sống “bên trong một đàng, bên ngoài một nẻo”.

– Vì thế, khi đối thoại với Đế Thích, Trương Ba thể hiện ý nguyện của mình: Tôi muốn là tôi toàn vẹn

+ Lời thoại này trước hết cho thấy một bước trưởng thành, một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức của Trương Ba. Từ chỗ đánh giá phiến diện về thân xác người, Trương Ba đã có cái nhìn đúng đắn, đó là cuộc sống tốt đẹp của người chỉ có thể được tạo nên từ sự hài hòa giữa hai đời sống của thể xác và tâm hồn. Nhận thức tưởng chừng như đơn giản đó của Trương Ba đã phải đánh đổi bằng rất nhiều đau khổ, nước mắt của chính bản thân ông và người thân nên nó là một nhận thức vô cùng quý giá.

+ Khao khát mãnh liệt, cháy bỏng “là tôi toàn vẹn” của Trương Ba còn cho thấy nhân cách cao đẹp của Trương Ba. Nhân vật đã không còn chấp nhận chung đụng với cái thô lỗ tầm thường, dung tục và để nó sai khiến, mà muốn được trở về sống trọn vẹn với cái lương thiện, trong sáng, tốt đẹp vốn có.

+ Ý nghĩa: Ước muốn của Trương Ba cũng là triết lí nhân sinh của Lưu Quang Vũ: sống là chính mình, không chấp nhận lối sống gửi, sống nhờ. Đồng thời, phải biết sống vị tha ( vì người khác), sống cao thượng. Cuối cùng, Trương Ba chấp nhận được chết hẳn, trả lại xác hàng thịt và xin cu Tị sống lại. Lựa chọn đó đã làm sáng lên nhân cách tốt đẹp, cao cả của Trương Ba.

  1. Nghệ thuật:

– Nghệ thuật xây dựng mâu thuẫn kịch: chặt chẽ, logic, hợp lý. Các chi tiết, hành động kịch nối tiếp nhau, đẩy mâu thuẫn kịch lên đến đỉnh cao, tạo nên kịch tính vô cùng căng thẳng, hấp dẫn.

– Nghệ thuật diễn tả tâm lý nhân vật: dù đây không phải là thế mạnh của thể loại kịch nói nhưng thông qua ngôn ngữ, hành động của nhân vật, tâm lý của nhân vật (đặc biệt là Trương Ba) vẫn được thể hiện một cách rõ nét với sự phức tạp, tinh tế chứ không giải đơn, xuôi chiều.

– Ngôn ngữ kịch: giản dị, sáng rõ, đặc biệt rất giàu tính triết lý.

  1. Ý nghĩa phê phán mà tác giả gửi gắm qua lời thoại:

Từ nỗi đau khổ của Trương Ba khi phải sống trong thân xác anh hàng thịt, khi phải chung đụng với cái tầm thường, dung tục và có khi bị cái tầm thường, dung tục ấy sai khiến, LQV đã cho thấy bi kịch của tất cả những ai không được sống là mình: “Bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, ở độ hàm chứa lời răn đe, cảnh tỉnh vô cùng nghiêm khắc của tác giả với những ai đang cố gắng tạo cho mình một vỏ bọc, bề ngoài giả dối khác với bản chất thực bên trong, bởi dù bị ép buộc hay cố tình thì hậu quả của nó cũng là vô cùng to lớn.

3.3.Kết bài: 0.25

– Tóm lại ý nghĩa trong bi kịch và khát vọng sống cao đẹp của nhân vật Trương Ba;

– Bài học cuộc sống được rút ra từ nhân vật: sống là chính mình, biết đấu tranh chống lại sự dung tục, tầm thường để giữ vững nhân cách…

Đề 14 (5.0 điểm):

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích sau:

Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!

Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!

Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!

Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!

             (Trích cảnh VII, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr. 149)

Từ đó, hãy nhận xét triết lí nhân sinh mà tác giả Lưu Quang Vũ gửi gắm qua nhân vật.

 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận

– Lưu Quang Vũ được đánh giá là một trong những kịch gia tài năng nhất, là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường nước nhà những năm 80 của thế kỷ XX. Kịch ông thường sắc sảo dữ dội, đề cập đến những vấn đề mang tính thời sự và ẩn chứa sau đó là những triết lí nhân sinh sâu sắc, thấm đượm chất nhân văn.

– Tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt được viết năm 1981, có nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian được công diễn vào năm 1998, là một trong những tác phẩm kịch xuất sắc nhất của Lưu Quang Vũ. Vở kịch đặt ra nhiều vấn đề có tính triết lí sâu sắc từ chuyện Hồn Trương Ba sống lại và trú ngụ trong xác Hàng Thịt .

– Đoạn trích thuộc đoạn giữa phần 3 cảnh VII, gần màn kết vở kịch, tái hiện lại cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích, tô đậm bi kịch và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chính. Qua trích đoạn này, tác giả Lưu Quang gửi gắm tới độc giả nhiều tư tưởng mang tính triết lí sâu sắc.

– Hoàn cảnh dẫn đến màn đối thoại: Trương Ba là một người làm vườn lương thiện, có tài đánh cờ giỏi. Song, không may bị chết oan vì sự tắc trách của quan trời. Đế Thích là một ông tiên cao cờ, vì yêu quý và mến tài đánh cờ của Trương Ba nên đã giúp Hồn Trương Ba sống lại trong thể xác của anh hàng thịt. Tuy nhiên hành động này vô tình đẩy Hồn Trương Ba vào một bi kịch đau đớn nghiệt ngã: Hồn bị tha hoá, bị thể xác sai khiến trở nên tầm thường, bị người thân hắt hủi xa lánh. Trương Ba rất lấy làm đau khổ, tuyệt vọng và quyết định tìm một cuộc sống đích thực dù phải đánh đổi bằng cái chết. Quyết định ấy thúc đẩy hồn Trương Ba lấy hương thắp gọi Đế Thích để nhờ ông tiên này giúp đỡ.

– Nội dung: Trong trích đoạn hồn Trương Ba đã bày tỏ tình cảnh bất hạnh của mình khi phải sống trong thân xác của anh hàng thịt. Qua đó toát lên thân phận bi kịch và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật.

0.5  
* Cảm nhận hình tượng nhân vật Hồn Trương Ba:

– Bi kịch:

+ Bi kịch là những xung đột, những mâu thuẫn đối lập giữa cái thiện và cái ác, giữa cái cao cả và thấp hèn dẫn đến một kết thúc buồn. Nhân vật chính thường kết thúc bằng cái chết bi thảm, để lại cho người đọc nỗi xót thương vô hạn. Mặc dù vậy, kết thúc truyện cái chân, thiện, mĩ luôn chiến thắng cái ác, cái xấu, cái giả dối,…

+ Biểu hiện bi kịch của hồn Trương Ba:

. Việc mang thân anh hàng thịt khiến hồn Trương Ba rơi vào trạng thái mệt mỏi, chán chường cùng cực; đau khổ, tuyệt vọng, bế tắc, cảm thấy sống không bằng chết. Điều này vượt ngoài sức chịu đựng của hồn Trương Ba: điệp ngữ “không thể được” thể hiện rõ điều này.

. Hồn Trương Ba đau khổ khi phải sống cuộc sống trái tự nhiên, “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” không được là chính mình. (Lấy dẫn chứng ở màn đối thoại với thể xác để phân tích chứng minh).

. Phải đấu tranh với Đế Thích, phải tìm đến cái chết, tự thủ tiêu cuộc sống, sự sống để được là “tôi toàn vẹn”; để không còn vật quái gở mang tên “hồn Trương Ba, da hàng thịt”.

– Vẻ đẹp tâm hồn:

+ Hồn Trương Ba đau khổ, quyết định lựa chọn cái chết để giải phóng cho mình một mặt xuất phát từ nhu cầu nội tại của bản thân, mặt khác xuất phát từ tấm lòng vị tha, trái tim nhân hậu, cao thượng: mong muốn giải thoát nỗi khổ đau cho những người thân yêu; muốn ngăn chặn nguy cơ gia đình “tan hoang” do tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ chính mình; muốn đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người xung quanh, như cu Tị, chị Lụa, vợ anh hàng thịt, anh hàng thịt.

+ Là người rất ngay thẳng, dũng cảm: Ông ý thức được cảnh ngộ tha hóa của bản thân, dám nhìn thẳng vào sự thật phũ phàng đó; kiên quyết không thỏa hiệp với cái xấu, cái ác, dám chống lại phần thấp hèn, ti tiện trong con người mình. Ông dám chỉ trích sai lầm của quan trời: Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!

+ Có quan niệm sống đúng đắn sâu sắc:

“Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được”: Cuộc sống thực sự phải có sự hòa hợp giữa thể chất và tâm hồn, bên trong và bên ngoài.

. “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác là chuyện không nên”, càng không nên sống nhờ vả vào thể xác của người khác.

. Sự sống là quan trọng, song “sống như thế nào” còn quan trọng hơn.

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 
* Triết lí nhân sinh mà Lưu Quang Vũ gửi gắm qua nhân vật.

 Được sống là một điều may mắn, nhưng sống như thế nào mới quan trọng

– Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi được sống là chính mình, có được sự hoà hợp giữa thể xác và linh hồn, giữa bên trong và bên ngoài, giữa nội dung và hình thức trong một thể thống nhất toàn vẹn chứ không phải là cuộc sống chắp vá, bất nhất: “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

– Trong cuộc sống chúng ta phải biết đấu tranh với sự dung tục tầm thường và chiến thắng nghịch cảnh để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Có như vậy chúng ta mới được là chính mình toàn vẹn.

0.5  
 – Đánh giá:

+ Giá trị nội dung: Đoạn trích đã thể hiện được cảnh ngộ đáng thương cũng như những nét đẹp đáng trân trọng, đáng quí trong tâm hồn nhân vật Trương Ba. Qua đó, kịch gia gửi gắm nhiều tư tưởng mang tính triết lí sâu sắc, ý nghĩa.

+ Giá trị nghệ thuật:

. Tác giả tạo ra xung đột kịch căng thẳng do khác nhau về quan niệm sống.

. Ngôn ngữ kịch giàu tính cá thể.

. Giọng điệu đa thanh, phức điệu, vừa hướng nội vừa hướng ngoại,  vừa giàu triết lý. Những triết lý có tính gợi mở, lột mặt nạ giải thiêng thần thánh mà mục đích cũng là tôn vinh con người với những ước mơ, những khát vọng đời thường.

. Với cuộc đối thoại này, tác giả đã cởi nút cho xung đột của tác phẩm.

 

Đề 15: Phân tích màn đối thoại giữa HTB và Đế Thích

2.1  Hoàn cảnh dẫn đến cuộc đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích: Do phải sống nhờ thể xác của hàng thịt, hồn Trương Ba phải chiều theo một số nhu cầu hiển nhiên của xác thịt. Linh hồn nhân hậu, trong sạch, bản tính ngay thẳng của Trương Ba xưa kia, nay phải sống mượn, lệ thuộc nên bị nhiễm độc bởi sự tầm thường, dung tục của xác thịt thô phàm. Thấm thía nghịch cảnh của bi kịch sống không được là chính mình và bi kịch bị chính những người thân yêu cự tuyệt – Trương Ba đã quyết định châm nhang gọi Đế Thích để quyết chết trả lại sự trong sạch, vẹn nguyên của linh hồn.

2.2. Nội dung cuộc đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích.

  1. Phần đầu của màn đối thoại là cuộc tranh luận về quan niệm sống của Trương Ba và Đế Thích. Qua cuộc tranh luận ấy, tác giả đề cao quan điểm sống – “phải sống là chính mình”.

Mở đầu là lời độc thoại: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ… Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”. Lời độc thoại cho thấy cuộc đấu tranh nội tâm vô cùng dữ dội ở Trương Ba. Thực ra cuộc đấu tranh đó đã được tác giả Lưu Quang Vũ gửi gắm qua màn đối thoại giữa Trương Ba và xác hàng thịt. Đó là cuộc đấu tranh giữa xác và hồn; giữa cao cả và đê hèn; giữa tốt và xấu; giữa cao thượng và dung tục; giữa khát vọng và dục vọng. Đó cũng là cuộc đấu tranh để hoàn thiện nhân cách. Cuộc đấu tranh này phần thắng nghiêng về xác nhưng bản thân hồn Trương Ba đã không chịu lép vế, không khuất phục mà đã tìm mọi cách để được sống là chính mình – đây chính là nhân cách cao đẹp của Trương Ba.

Trương Ba bày tỏ nguyện vọng với Đế Thích: “Tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!”. Lời thoại có tới hai lần phủ định “tôi không thể”; “không thể được” cho thấy quyết tâm rời bỏ xác hàng thịt là ý chí sắt đá của Trương Ba khi thấm thía nghịch cảnh trớ trêu của mình.

Tiếp đến Trương Ba nêu lên đòi hỏi chính đáng cũng như quan điểm sống cao đẹp – sống phải là chính mình: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Câu nói thể hiện nghịch cảnh của Trương Ba, sự bất nhất của cái bên trong và cái bên ngoài: “bên trong” chính là linh hồn, cảm xúc, tư tưởng, nhân cách cao đẹp của Trương Ba. Hồn là sự tinh anh chi phối điều khiển thể xác. Đối lập bên trong là “bên ngoài” – xác thịt thô phàm của anh hàng thịt. Nhưng “cái bên ngoài” cần hiểu theo nghĩa rộng là hoàn cảnh sống, là bản năng, là nhu cầu tự nhiên, là dục vọng bản năng. Sự tha hóa của linh hồn Trương Ba chính là do linh hồn đã nhượng bộ, đã tự bán mình, tự thỏa hiệp với nhu cầu bản năng. Đây chính là sự dằn vặt, đau khổ, trăn trở của Trương Ba. Cả hai không thể hoà hợp bởi không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục tội lỗi. Tài liệu của thầy Phan Danh Hiếu

Từ đó Trương Ba lên tiếng đòi nhu cầu chính đáng của bản thân: “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Đây là khát vọng mãnh liệt của Trương Ba, khát vọng được sống hòa hợp. “Toàn vẹn” nghĩa là phải có sự hòa hợp giữa bên trong và bên ngoài, giữa nội dung và hình thức, giữa thể xác và linh hồn. Không thể có cuộc sống nào mà “hồn này xác kia” được. Cuộc sống không thuận theo lẽ tự nhiên, không thuận theo tạo hóa, sống mà không được là chính mình thì đó là một bi kịch nghiệt ngã.

Trước những yêu cầu của Trương Ba, Đế Thích lại lập luận rằng: Trương Ba nên chấp nhận cuộc sống ấy vì “dưới đất trên trời đều thế cả”. Đế Thích chỉ ra rằng không chỉ Trương Ba đang sống trong cảnh trong ngoài bất nhất, mà mọi người đều như thế cả. Vì vậy Đế Thích khuyên Trương Ba đừng cố gắng làm viên bi lăn ngược vòng mà hãy chấp nhận, hãy biết cách thỏa hiệp, học cách chấp nhận. Đế Thích đã lấy tâm lý đám đông để áp đặt lên quan điểm sống của mình. Đế Thích lấy dẫn chứng về chính ông ta và Ngọc Hoàng cũng không thể sống là chính mình: “Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo như những gì tôi nghĩ ở bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa. Chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng”. Như vậy, theo Đế Thích thì: “không ai được sống là chính mình”. Bởi sống có nghĩa là tồn tại, còn tồn tại như thế nào thì còn do hoàn cảnh, điều kiện mà con người buộc phải quy thuận. Đây là quan niệm sống sai lầm đáng lên án.

Trương Ba bắt đầu đổi giọng lên án Đế Thích: “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác, đã là chuyện không nên, đằng này cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt”. Trương Ba đưa ra sự so sánh đồ đạc, vật chất và bản thân. Đồ đạc, của cải vật chất mượn của người khác đã là chuyện không nên; còn sống nhờ, sống gửi, sống ký sinh vào thân xác của kẻ khác là điều xấu hổ đáng lên án. Trương Ba thẳng thắn: “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Lời thoại đã chỉ trích quan niệm sai lầm của Đế Thích bởi suy nghĩ đơn giản về cuộc sống. Với Đế Thích, sống là tồn tại còn tồn tại như thế nào thì không cần biết. Với Trương Ba, sống không chỉ là sự tồn tại sinh học mà sự tồn tại ấy còn phải là sự tồn tại có ý nghĩa.

Những lời thoại của Trương Ba và Đế Thích ở phần này chủ yếu thiên về cuộc đấu tranh của Trương Ba – đó là cuộc đấu tranh vượt lên nghịch cảnh để chiến thắng bản thân bảo vệ linh hồn cao đẹp.

  1. Phần sau của màn đối thoại chủ yếu thông qua cuộc đấu tranh “tồn tại hay không tồn tại”. Cuộc đấu tranh này toát lên nhân cách cao thượng và đức hi sinh của Trương Ba.

Tiếp đến Trương Ba bày tỏ nguyện vọng: “Thân thể anh hàng thịt còn lành lặn nguyên xi đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy làm cho hồn anh ta được sống lại với thân xác này”. Nhưng Đế Thích bác bỏ vì Đế Thích cho rằng tâm hồn đáng quý của Trương Ba không thể thay thế cho phần hồn tầm thường của anh hàng thịt. Trương Ba lập luận rằng: “Tầm thường, nhưng đúng là của anh ta… chúng sinh ra là để sống với nhau”. Để khẳng định với quyết tâm của mình Trương Ba trở nên mạnh mẽ: “Nếu ông không giúp, tôi sẽ nhảy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ, lúc đó thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất”. Ý chí mạnh mẽ của Trương Ba xuất phát từ khát vọng “được sống là chính mình”, và để “được sống là chính mình” lúc này, Trương Ba không có con đường nào khác là cái chết. Vì chỉ khi chết đi, ông mới thực sự là chính mình, mới hoàn nguyên được vẻ đẹp cao khiết của linh hồn mình. Với Trương Ba, thiên đường đẹp nhất để linh hồn có thể trú ngụ sau khi chết chính là phục sinh trong trái tim của những người yêu quý ông.

Lưu Quang Vũ đặt Trương Ba vào một tình huống kịch độc đáo. Sự việc thằng cu Tị con trai độc nhất của chị Lụa chết đã làm cho cuộc đối thoại mang tính bước ngoặt.

Đế Thích muốn Trương Ba nhập hồn vào xác cu Tị: “Ông sống trong thân xác thằng bé chắc sẽ ổn”. Câu nói này của Đế Thích một lần nữa cho thấy lối suy nghĩ đơn giản, phiến diện – sống là sự tồn tại. Thực chất của lối suy nghĩ này là xuất phát  từ chính cuộc sống của Đế Thích. Tiên phật thánh thần chẳng bao giờ chết cho nên sống là để hưởng thụ. Lối sống này ảnh hưởng trực tiếp lên tư tưởng ấy dẫn đến những sai lầm của Đế Thích.

Trước yêu cầu của Đế Thích, Trương Ba ngập ngừng: “Ông cho tôi suy nghĩ một lát đã”. Sự phân vân của Trương Ba cho thấy: sống là đáng quý thật, được tồn tại mãi mãi là điều còn quý giá hơn. Sự phân vân này cũng cho thấy Trương Ba rất ham sống, vẫn muốn được sống. Trương Ba lại tiếp tục trải qua cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội. Ông hình dung thấy trước mắt là cuộc sống tương lai của mình trong cơ thể của một thằng bé lên mười: “Có khi tôi còn phải sang nhà chị Lụa ở… Bà vợ tôi, các con tôi sẽ nghĩ ngợi, xử sự thế nào, khi chồng mình, bố mình mang thân một thằng bé lên mười…”. Trương Ba thấy mọi sự vô lí nhất là khi ông nhìn thấy được sự cô đơn của bản thân khi: “Vẫn phải sống suốt bao năm tháng dằng dặc. Mình tôi giữa đám người hậu sinh… Tôi sẽ như ông khách ngồi ở nhà người ta… Tôi sẽ bơ vơ lạc lõng”. Điều khiến chúng ta trân trọng ở Trương Ba đó chính là tâm hồn ông cao thượng: “Tôi không thể cướp cái thân thể non nớt của cu Tị” và cũng chính cái chết của cu Tị cùng với khát vọng được cứu sống thằng bé đã khiến Trương Ba trở nên mạnh mẽ. Trương Ba lên tiếng khẩn khoản cầu cứu Đế Thích “Ông hãy cứu nó! Ông phải cứu nó!… vì con trẻ… Ông hãy giúp tôi lần cuối cùng”.

Đế Thích vẫn muốn Trương Ba tiếp tục tồn tại nhưng Trương Ba đã thẳng thắn chỉ ra sai lầm của Đế Thích: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù bằng một việc đúng khác”. Ông cũng khuyên nhủ Đế Thích phải làm cho bằng được việc đúng, đó chính là làm cho cu Tị được sống lại. Những suy nghĩ tốt đẹp của Trương Ba và đức hi sinh cao thượng của ông cuối cùng cũng thay đổi được tư duy của Đế Thích. Cu Tị được sống còn Trương Ba trở về với chính mình chứ không còn là “cái vật quái gở mang tên hồn Trương Ba, da hàng thịt nữa”.

  1. Đoạn kết của vở kịch cũng như một bi kịch đẹp của Trương Ba sau màn đối thoại với Đế Thích.

Hồn Trương Ba nhập vào cảnh vật quen  thuộc trong gia đình và gắn bó trong trái tim những người yêu thương ông. Trương Ba đã phục sinh linh hồn mình trong trái tim của những người yêu thương. Linh hồn ông mãi mãi bất tử trong màu xanh cây vườn và bất tử trong những người yêu mến ông.

2.3. Ý nghĩa của triết lý “hãy sống là chính mình”:

Con người tồn tại gồm phần con và phần người. Phần con thuộc về bản năng. Phần người thuộc về nhân cách, sự cao thượng đẹp đẽ của tâm hồn. Phần con và phần người đã tạo ra con người đúng nghĩa. Ở đây hai hình tượng hồn và xác cũng là ẩn dụ cho phần con và phần người. Một bên đại diện cho những gì đẹp đẽ, thanh cao; một bên đại diện cho sự thô tục, thô phàm. Tác giả Lưu Quang Vũ nhấn mạnh không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục. Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi được sống là chính mình, được hoà hợp xác và hồn, trong và ngoài, nội dung và hình thức trong một thể thống nhất toàn vẹn chứ không phải là cuộc sống chắp vá, bất nhất: “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

Muốn sống đúng là chính mình thì mỗi chúng ta cần phải biết hài hoà giữa việc chăm lo cho linh hồn cũng như biết quý trọng và chăm sóc cho những nhu cầu thiết yếu của thể xác. Thông qua đó Lưu Quang Vũ cũng góp phần phê phán hai hạng người: một loại chỉ biết trau chuốt vẻ ngoài và chạy theo những ham muốn vật chất mà không chăm lo cho đời sống tâm hồn. Loại khác thì luôn coi thường những giá trị vật chất, bỏ bê sự chăm sóc bản thân chỉ khư khư giữ cho linh hồn được cao đẹp. Thông qua xác và hồn Lưu Quang Vũ nêu cao tư tưởng phải sống là chính mình đó mới chính là hạnh phúc thật sự của con người. Bởi vậy trong cuộc sống chúng ta phải biết đấu tranh với sự dung tục tầm thường và chiến thắng nghịch cảnh để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Có như vậy chúng ta mới được là mình – được là chính mình toàn vẹn.

  1. Nghệ thuật

Làm nên thành công của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung, Lưu Quang Vũ đã sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật: Sáng tạo lại cốt truyện dân gian. Nghệ thuật dựng cảnh, dựng đối thoại, độc thoại nội tâm. Hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, góp phần phát triển tình huống truyện. Có chiều sâu triết lý khách quan.

* Nghệ thuật: sử dụng ngôn ngữ và miêu tả hành động nhân vật đặc sắc

– Hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, thể hiện được sự phát triển của tình huống kịch.

– Cùng với diễn tả những hành động bên ngoài (thể hiện mối quan hệ giữa các nhân vật) ở đây tác giả còn thành công khi diễn tả hành động bên trong phản ánh thế giới tinh thần căng thẳng, đặc biệt ở những lời độc thoại nội tâm của nhân vật Hồn Trương Ba.

– Ngôn ngữ nhân vật sinh động, gắn liền với tình cảm, tâm trạng cụ thể.

– Ngôn từ nhân vật có giọng điệu biến hóa, lôi cuốn. Đặc biệt, có những lời thoại của nhân vật Hồn Trương Ba với Đế Thích vừa hướng ngoại lại vừa mang tính chất hướng nội (độc thoại nội tâm).

* Chiều sâu triết lý trong màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích:

– Qua màn đối thoại giữa Trương Ba với Đế Thích cho thấy Đế Thích có cách nghĩ và cách nhìn quan liêu, hời hợt về cuộc sống của con người nói chung và của Trương Ba nói riêng. Còn Trương Ba lại không muốn kéo dài cuộc sống giả tạo “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” mà chỉ muốn có một cuộc sống có ý nghĩa thực sự, sống được đúng là mình, hòa hợp toàn vẹn giữa tâm hồn và thể xác.

– Qua màn đối thoại, tác giả đã gửi gắm nhiều thông điệp vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ, quyết liệt, vừa kín đáo và sâu sắc về thời chúng ta đang sống. Tác giả đã cổ vũ cho cuộc đấu tranh bảo vệ những phẩm tính cao quý của con người nhằm hướng tới khát vọng sống trong sạch, hài hòa giữa thể xác và tâm hồn, vật chất và tinh thần và hoàn thiện nhân cách.

– Khẳng định mạnh mẽ nhu cầu được sống là mình: “không thể bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo”. Với Trương Ba, nhu cầu sống cuối cùng vẫn được đánh giá cao hơn nhu cầu tồn tại. Được sống làm người là rất quý giá song được sống đúng là mình, sống trọn vẹn giá trị mà mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Sự sống chỉ có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hoà giữa thể xác và tâm hồn.

– Đặt ra vấn đề “sống như thế nào” là biểu hiện của ý thức cao về sự sống và cách sống để có một cuộc sống hạnh phúc và có ý nghĩa.

ĐÁNH GIÁ CHUNG

– Trong đoạn trích, tác giả Lưu Quang Vũ đã thể hiện một cách sâu sắc và sinh động bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba – bi kịch của một con người không được sống toàn vẹn mà mình phải sống “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

–  Qua bi kịch của Hồn Trương Ba, nhà viết kịch tài năng đã gửi tới độc giả nhiều thế hệ những triết lí nhân sinh sâu sắc về hạnh phúc, sự sống và cái chết, đồng thời phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ. Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những ngịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý, góp phần đấu tranh chống lại sự tha hoá ở mỗi con người trong đời sống hiện nay.

 

Đề 16 (5,0 điểm)

Đánh giá của anh/chị về lí lẽ của hai nhân vật Hồn Trương Ba và Đế Thích trong đoạn trích dưới đây, từ đó hãy trả lời câu hỏi: Trong đoạn trích này, ai là người đang “tranh cãi với tự nhiên” ?

Hồn Trương Ba (sau một hồi lâu): Tôi đã nghĩ kĩ… (nói chậm và khẽ) Tôi không nhập vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn!

Đế Thích: Không thể được! Việc ông phải chết chỉ là một nhầm lẫn của quan thiên đình. Cái sai ấy đã được sửa bằng cách làm cho hồn ông được sống.

Hồn Trương Ba: Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác. Việc đúng còn làm kịp bây giờ là làm cu Tị sống lại. Còn tôi, cứ để tôi chết hẳn…

Đế Thích: Không ! Ông phải sống, dù với bất cứ giá nào…

Hồn Trương Ba:

Không thể sống với bất cứ giá nào được, ông Đế Thích ạ! Có những cái giá đắt quá, không thể trả được… Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm để đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa…

Đế Thích: Ông có biết ông quyết định điều gì không ? Ông sẽ không còn lại một chút gì nữa, không được tham dự vào bất cứ nỗi vui buồn gì! Rồi đây, ngay cả sự ân hận về quyết định này, ông cũng không có được nữa.

Hồn Trương Ba: Tôi hiểu. Ông tưởng tôi không ham sống hay sao ? Nhưng sống thế này, còn khổ hơn là cái chết. Mà không phải chỉ một mình tôi khổ ! Những người thân của tôi sẽ còn phải khổ vì tôi ! Còn lấy lí lẽ gì để khuyên thằng con tôi đi vào con đường ngay thẳng được ? Cuộc sống giả tạo này có lợi cho ai ? Họa chăng chỉ có lão lí trưởng và đám trương tuần hỉ hả thu lợi lộc ! Đúng, chỉ bọn khốn kiếp là lợi lộc.

Đế Thích: Tôi không phải là kẻ khốn kiếp… Tôi quý mến ông… Tôi sẽ chẳng bao giờ được đánh cờ với ông nữa ư ? Nhờ ông đánh cờ với tôi, người trên trời dưới đất mới biết tôi cao cờ như thế nào ! Ngoài ông ra, không ai dám đọ cờ với tôi. Ông chính là lẽ tồn tại của tôi.

Hồn Trương Ba: Vì để chứng minh ông tồn tại mà tôi cứ phải tiếp tục cuộc sống không phải là tôi ư ? Không, ông phải tự tồn tại lấy chứ !

Đế Thích: Nhưng không đánh cờ, Đế Thích sẽ không còn là Đế Thích.

Hồn Trương Ba: Người ta đánh cờ là để rèn luyện tâm trí, để sảng khoái minh mẫn hơn mà sống ! Còn ông đánh cờ chỉ để chứng tỏ ông là tiên cờ ! Nói thật với ông: Nếu còn tiếp tục sống, tôi cũng chẳng thích đánh cờ với ông nữa ! Đánh cờ với ông chán lắm ! Không có gì chán bằng đánh cờ với tiên !

Đế Thích: (suy nghĩ) Con người dưới hạ giới các ông thật kì lạ.

Hồn Trương Ba: Ông hãy trả lời đi ! Ông có giúp tôi không ? Nếu ông từ chối, tôi sẽ… Tôi đã nhất quyết ! Ông phải giúp tôi!

Đế Thích: Trả thân xác này cho anh hàng thịt… và thế là…

Hồn Trương Ba: Không còn cái vật quái gở mang tên “Hồn Trương Ba, da hàng thịt nữa”.

Mở bàiTrình bày những nét khái quát nhất về tác giả Lưu Quang Vũ và vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”; dẫn vào vấn đề và đoạn trích.

Thân bài: Đánh giá lí lẽ của hai nhân vật: hồn Trương Ba và Đế Thích

  1. Đánh giá lí lẽ của Đế Thích:

– Đế Thích cho rằng con người sống thì không cần phải hài hòa, toàn vẹn trong ngoài, vì theo ông “dưới đất trên trời đều thế cả”. Quan niệm này cho thấy Đế Thích có cái nhìn tuy trung thực nhưng lại hời hợt về cuộc sống của con người nói chung, của Trương Ba nói riêng. Với Đế Thích, miễn duy trì được sự sống là được.

– Đế Thích không đồng ý để Trương Ba đổi cái tâm hồn cao quý lấy cái tâm hồn phàm tục của anh hàng thịt. Quan niệm này cho thấy Đế Thích có cái nhìn rất phiến diện, một chiều, chỉ coi trọng cái thanh cao mà bác bỏ cái thấp hèn. Nếu không có cái thấp hèn thì đâu là cơ sở, tiêu chuẩn để định giá cái thanh cao?

– Đế Thích kiên quyết tìm mọi cách để Trương Ba được sống, và cuối cùng ông đề nghị Trương Ba nhập vào xác cu Tị. Với ông, việc Trương Ba chết là một sai lầm, và cần phải được sửa. Ở đây ta lại thấy Đế Thích không có cái nhìn sâu sắc, toàn diện về cuộc sống: bởi việc Trương Ba nhập vào xác cu Tị hay xác anh hàng thịt, về bản chất thì nó là giống nhau.

– Đế Thích muốn Trương Ba phải sống với bất cứ giá nào, vì theo Đế Thích, chết có nghĩa là hết tất cả. Quan niệm này cho thấy Đế Thích chỉ để ý đến mặt lượng (tức là kéo dài thời gian sống trên cuộc đời) chứ không hiểu được mặt chất (tức là sống sao cho có ý nghĩa) – Có lẽ do Đế Thích là tiên, là bất tử nên ông chưa bao giờ bị áp lực về mặt thời gian sống. Chính vì sống mà không bao giờ phải chết nên có lẽ ông cũng chưa bao giờ băn khoăn là phải sống như thế nào để khi chết đi không phải ân hận.

– Đế Thích muốn Trương Ba sống với bất cứ giá nào còn cho ta thấy suy nghĩ ích kỉ của Đế Thích: Đế Thích chỉ nghĩ đến việc làm cho Trương Ba sống để chơi cờ với mình, để chứng minh sự tồn tại của tiên cờ Đế Thích; chứ chưa bao giờ ông nghĩ đến cảm giác của Trương Ba và những người thân của Trương Ba.

  1. Đánh giá lí lẽ của Trương Ba:

– Trương Ba muốn được sống là chính mình, sống hài hòa giữa tâm hồn và thể xác. Đó là một ước muốn cao đẹp và chính đáng, bởi nếu không sống như vậy, thì có nghĩa là anh đang không thành thực với mình và với người, đang “diễn” với cuộc đời.

– Trương Ba muốn trả lại thân xác cho hồn anh hàng thịt, đó là một hành động dũng cảm và đúng đắn: vì dù có xấu xa phàm tục đến thế nào đi chăng nữa thì chúng vẫn thuộc về nhau, sinh ra là dành cho nhau; nó sẽ hài hòa, không khập khiễng.

– Hồn Trương Ba không đồng ý nhập vào xác của cu Tị, vì ông nhận thấy điều này, về bản chất, cũng chỉ là sự vay mượn, chắp vá, cũng là “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”. Qua hành động từ chối này, Trương Ba vừa cho thấy sự cao đẹp của tâm hồn khi không tham lam sống tiếp, vừa cho thấy ông nắm được quy luật của nhân sinh.

– Trương Ba ý thức về cái chết một cách rất đúng đắn: cả sự sống và cái chết đều có ý nghĩa của nó. Vấn đề không phải là vì sợ chết mà cứ bám lấy sự sống, ngay cả khi sự sống ấy vô nghĩa; mà quan trọng là phải dũng cảm lựa chọn, dũng cảm chết nếu nó làm cho mọi thứ trở nên ý nghĩa hơn – chết để được sống là chính mình.

– Trương Ba ý thức được rằng nếu ông tiếp tục sống thì không chỉ một mình ông khổ, mà cả những người xung quanh cũng khổ theo ông. Đây là một cái nhìn vừa chu đáo, vừa thể hiện thái độ cao thượng, sống vì người khác của ông.

  1. Trả lời câu hỏi: Ai là người đang “tranh cãi với tự nhiên?”

Qua việc phân tích và đánh giá lí lẽ của hai nhân vật trên ta thấy:

– Thoạt nhìn, ta có thể nhầm tưởng

+ Đế Thích là người đang nỗ lực để tuân thủ quy luật của tự nhiên (vì Trương Ba chết là do lỗi gạch nhầm tên của Nam Tào – tức trái tự nhiên – và Đế Thích muốn sửa sai, làm cho Trương Ba sống lại – tức chữa lại cái sai ấy cho đúng với quy luật).

+ Còn Trương Ba là người chống lại tự nhiên (vì ông chết do nhầm lẫn nhưng giờ đây lại cứ muốn cái nhầm lẫn ấy thành sự thật; còn anh hàng thịt chết là đúng quy luật nhưng ông lại muốn trả thân xác cho anh ta sống lại, tức trái quy luật)

– Tuy nhiên, nếu xét kĩ, ta lại nhận ra điều hoàn toàn ngược lại:

+ Đế Thích mới là người đang “tranh cãi với tự nhiên: Việc làm trái quy luật đầu tiên của Đế Thích (lần cãi lại tự nhiên đầu tiên) là cho hồn Trương Ba nhập vào xác hàng thịt (một việc vô lí vì không thể nào có chuyện hồn người này lại sống trong xác người kia); Việc làm trái quy luật tiếp theo (tức lần cãi tự nhiên thứ hai) là ý định sửa cái sai này bằng một cái sai khác (tức là làm cho một hành động vốn đã trái quy luật, giờ lại trái quy luật thêm một lần nữa – muốn cho hồn của Trương Ba nhập vào xác cu Tị).

+ Trương Ba là người đang muốn trả lại mọi thứ về đúng quy luật, đúng trình tự của nó để cái sai không còn tiếp diễn: Ông muốn trả thân xác cho anh hàng thịt để anh ta và ông đều được là chính mình; ông từ chối nhập vào xác của cu Tị cũng là để tránh cái hoàn cảnh “bên trong một đằng bên ngoài một nẻo”; ông muốn cho cu Tị sống lại là để sửa chữa cái sai của Nam Tào và của Tây Vương Mẫu.

Kết luận:Khái quát lại vấn đề.

Đỗ Thủy Học Điện Tử

Tôi một người đam mê cung cấp kiến thức cuộc sống và kiến thức giáo dục văn học , vật lý , điện tử đến cho mọi người hãy cùng tôi tiếp nhận kiến thức mới nhé !
Back to top button